So với mức tăng không đột biến của các khu vực khác, như khối các DN FDI tăng 3,69 lần, DN nhà nước giảm 1,69 lần, có thể nói rằng, chính các DN tư nhân Việt Nam đã tạo nên sự tăng trưởng về mặt số lượng cho cộng đồng DN Việt Nam. Nhờ vậy, Việt Nam đã đạt được tỷ lệ 5 DN/1.000 dân và đang tiệm cận dần mức trung bình 9-10 DN/1.000 dân của nhiều nước khác trong khu vực.
Cũng sau hơn 9 năm, các DN tư nhân đã tạo ra được 4,3 triệu việc làm. Con số này chiếm hơn 54% tổng số việc làm của các DN tạo ra và gấp gần 4 lần tổng số việc làm mà các DN nhà nước tạo ra. Như vậy, số lượng lao động mà DN dân doanh tạo ra trong giai đoạn này cũng đã tăng hơn 505%.
Các con số này đã nói lên rất nhiều điều về chất lượng của khu vực kinh tế tư nhân. Chỉ riêng về phương diện tạo việc làm, khu vực này đã góp phần rất lớn cho quá trình phát triển kinh tế, cải thiện thu nhập cho người dân và hỗ trợ quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, đặc biệt là từ phương diện tạo việc làm cho những đối tượng bị giảm biên chế hoặc mất việc do quá trình cải cách hành chính, cải cách DN nhà nước. Các DN này cũng góp phần đáng kể quá trình tạo việc làm cho hơn 1,2 triệu người tham gia trị trường lao động mỗi năm và duy trì tỷ lệ thất nghiệp thấp ở Việt
Tuy nhiên, ở những con số khác, bức tranh về khu vực kinh tế tư nhân chưa thực sự tròn đều. Sau gần 10 năm thực hiện Luật DN, “kích cỡ” của các DN tư nhân Việt
Hơn thế, những chỉ số quan trọng phản ánh chất lượng hoạt động của các DN trong khu vực tư nhân được cải thiện ở mức độ thấp hơn so với các DN nhà nước và DN FDI. Cụ thể, trong khi các DN tư nhân chỉ có thể cải thiện được mức tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu từ 4,4% vào năm 2000 lên 7,1% vào năm 2008, thì DN nhà nước đã tăng được từ 7,9% lên 12,4% và DN FDI từ 19,8% lên 23,9% trong cùng giai đoạn này. Tương tự, mức cải thiện tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản có của khu vực DN tư nhân cũng thấp hơn nhiều so với mức cải thiện tỷ lệ này của các DN nhà nước và DN FDI.
Về quy mô vốn chủ sở hữu trung bình của một DN, mặc dù khu vực tư nhân tăng gấp 3 lần trong giai đoạn 2005 – 2008, lên khoảng 3,6 tỷ đồng/DN, nhưng con số này là quá khiêm tốn so với mức trung bình 242 tỷ đồng/DN nhà nước hay 76 tỷ đồng/DN đầu tư nước ngoài. Tỷ lệ này cũng tương tự đối với các chỉ số như lợi nhuận trung bình/DN, tài sản trung bình/DN, hoặc doanh thu thuần trung bình/DN.
Mặc dù đã được cải thiện, song rõ ràng là mức độ cải thiện về các chỉ số hiệu quả hoạt động tài chính, chất lượng hoạt động của các DN tư nhân là thấp và chậm hơn so với các DN thuộc các thành phần kinh tế khác, kể cả đối với DN nhà nước. Điều này có thể dẫn đến một khả năng là khoảng cách ngày một rộng về hiệu quả tài chính giữa các khu vực tư nhân và các DN thuộc các thành phần khác của nền kinh tế.
Đặc biệt, chất lượng của khu vực kinh tế tư nhân còn được đánh giá, nhìn nhận qua chất lượng khá hạn chế trong quản trị điều hành trong DN, của việc tuân thủ các quy định về môi trường, tiêu chuẩn lao động, các vấn đề trách nhiệm xã hội, về các hoạt động nghiên cứu, phát triển, sáng tạo và trình độ tiếp thu, chuyển giao công nghệ mới...



