Đặc biệt, những lợi thế tĩnh (tài nguyên thiên nhiên, nhân công…) và sự thay đổi về vị trí, vai trò khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), cũng như các cam kết song phương và đa phương đang được giới đầu tư tận dụng triệt để. Nhìn vào chỉ số cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt
Mâu thuẫn nằm ở chỗ, trong các bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh, Việt
Trong các nghiên cứu về 3 năm gia nhập WTO, có điểm đáng chú ý là, tỷ lệ bảo hộ thực tế của Việt Nam, tính cả thuế quan đầu vào và đầu ra trong nhiều trường hợp thấp hơn mức yêu cầu rất nhiều. Có những lựa chọn đi nhanh là hợp lý, nhưng cũng có những trường hợp gây chi phí điều chỉnh cao.
Hơn thế, việc tận dụng các biện pháp phòng vệ được phép trong khu vực nông nghiệp - nông thôn còn rất hạn chế so với dư địa mà WTO cho phép. Nếu tính cụ thể thì tỷ lệ bảo hộ thực tế với hàng nông sản thô là thấp nhất, trong khi tỷ lệ cho công nghiệp chế biến thực phẩm, đồ uống, nhưng chủ yếu là các sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, lại cao.
Trong sự ồ ạt của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực bất động sản, những áp lực tăng vốn của các ngân hàng trong nước… đang làm khó cho không ít hoạt động của khu vực có tác động rất lớn tới các vấn đề xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô, có những bài học của hội nhập và sự lựa chọn. Nếu như đặt cạnh sự bứt phá không thực sự mạnh mẽ của xuất khẩu, sự gia tăng nhanh chóng của nhập siêu, cũng như những điều hành bằng quyết định hành chính thời gian qua khá nhiều và cả sự gia tăng của các hàng rào phi thuế quan từ các thị trường, thì rõ ràng, thách thức tiếp theo là rất lớn.
Cũng có thực tế là, những tác động bất lợi của khủng hoảng kinh tế ngay sau khi Việt
Tuy vậy, lợi ích rất rõ là các nút thắt, điểm nghẽn trong tăng trưởng, các khúc mắc trong hiệu quả tăng trưởng và những nhu cầu xây dựng mô hình phát triển mới của kinh tế Việt Nam trong sân chơi toàn cầu cũng như trong khu vực nổi lên rõ ràng. Có thể thấy, lợi thế so sánh tĩnh sẽ tiếp tục là thế mạnh của môi trường đầu tư Việt
Song yêu cầu dịch chuyển sang chất lượng qua cạnh tranh, qua thu hút công nghệ, kỹ năng… lớn hơn, cùng với đòi hỏi mới về cách chơi với từng đối tác lớn, cách ứng xử hài hoà hoá các tuyến hội nhập đa phương và song phương, mà Việt Nam là một trong số ít nước đã ký nhiều hiệp định song phương với các quốc gia trên thế giới, để tăng các tác động tốt, giảm thiểu các chi phí điều chỉnh của nền kinh tế.
Câu chuyện phải lựa chọn cách chơi như thế nào đã dần phát huy lợi thế so sánh động, vì lợi thế động đòi hỏi quy mô kinh tế, công nghệ, kỹ năng, bên cạnh các đòi hỏi về vốn. Đặc biệt, ứng xử hợp lý với ổn định kinh tế vĩ mô và xã hội khi các yếu tố cấu thành đều phức tạp hơn cũng là thách thức không nhỏ khi Việt Nam đang bước sang các nấc thang cao hơn của hội nhập và phát triển.



