14:00:10 Thứ hai, 22/02/2010
Giữ lửa niềm tin
Bảo Duy
Thực tế cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam ít khi chịu bó tay trước thách thức
Len chân vào giữa các buổi làm việc dày đặc cuối năm, câu chuyện với Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), TS. Vũ Tiến Lộc về cộng đồng doanh nhân Việt Nam sau một năm thử lửa kéo dài và tưởng như khó đặt dấu chấm.
Thương hiệu Việt

“Để tôi kể câu chuyện về cà phê tại Tây Ban Nha đã nhé. Tại sao Việt Nam xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới mà không thông tin nào đến được thị trường tiêu dùng bên ngoài nhỉ. Tôi đã hỏi nhiều người khi uống cà phê tại Tây Ban Nha, câu trả lời họ không hề biết”.

Ông Vũ Tiến Lộc cứ băn khoăn mãi khi bắt đầu câu chuyện sau chuyến tháp tùng Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm chính thức Tây Ban Nha… và tổ chức Những ngày Việt Nam tại Tây Ban Nha đầu tháng 12/2009.

Có lẽ không chỉ doanh nghiệp đang thiếu cách đi đúng. Trung Nguyên đang nhiệt huyết với kế hoạch thánh địa cà phê ở Việt Nam. Nhưng đưa cà phê Việt Nam, thương hiệu Việt Nam hiện diện ở thị trường với vị thế của nước xuất khẩu cà phê đứng thứ hai thế giới cần nhiều hơn thế.

“Sao không phải là cà phê nhỉ. Chúng ta có nguồn nguyên liệu dồi dào, có một nền tảng tốt trong thị trường xuất khẩu. Nếu thu hút nguồn vốn đầu tư bên ngoài vào tham gia khâu chế biến, sản xuất, xây dựng phân phối thương hiệu cà phê Việt Nam thì điều gì sẽ xảy ra. Nếu như Những ngày Việt Nam ở nước ngoài, các diễn đàn doanh nghiệp, các đoàn xúc tiến đầu tư, thương mai của Việt Nam sẽ chào đón quan khách bằng cà phê “Made in Việt Nam”, nhưng với hương vị của các vùng miền trên thế giới, thì có phải là sự kết hợp tốt không? Tách cà phê như lời chào trong mọi câu chuyện. Và Việt Nam chào thế giới hàng ngày bằng hương vị của mình, có được không?”.

Thật khó đưa ra lời bình khi mà hàng loạt kế hoạch xây dựng thương hiệu Việt Nam với kinh phí cả tỷ đồng chưa trả lời nổi. Khi ông Philip Kotler đến Việt Nam, câu hỏi tương tự cũng được doanh nghiệp Việt Nam gửi tới để cầu thị một khuyến nghị độc lập và tỉnh táo từ bên ngoài. Dường như cũng thật khó cho ông, dù là  “cha đẻ” của ngành marketing hiện đại. Khuyến nghị về việc Việt Nam có thể là bếp ăn của thế giới được đưa ra. Và rồi cũng lắm lời bàn ra nói vào. Nhưng dường như, việc xác định một cách nghiêm túc câu hỏi này chưa thấy được.

“Doanh nghiệp sẽ phải kết nối để đảm bảo chuyên nghiệp, chất lượng trong tạo vùng nguyên liệu và nguyên liệu, trong sản xuất và phân phối, đặc biệt kết nối trong xây dựng thương hiệu chung. Bàn tay nhà nước thực sự cần để cùng đưa một thương hiệu chung cho cà phê Việt Nam ra lớn mạnh. Sẽ không chỉ một ngành cà phê được hưởng lợi. Khi cà phê Việt Nam được nhắc tới hàng ngày, họ sẽ nhớ đến Việt Nam, và những gì liên quan đến Việt Nam đều có thể tạo nên sự chú ý. Có lẽ chúng ta phải bắt đầu từ một thương hiệu, để tạo nên hình ảnh chung cho cả nền sản xuất, nền kinh tế. Khi đó, người Việt đương nhiên dùng hàng Việt, và người nước ngoài cũng sẽ chọn hàng Việt”.

Khái niệm về nội địa

Đặt vấn đề liên kết cho lời giải về bài toán xây dựng thương hiệu Việt, ông Lộc cho rằng, giới hạn của thị trường nội địa của doanh nghiệp Việt Nam đã khác trước rất nhiều. Giới hạn hẹp nhất là điểm kết nối trong hợp tác Tiểu vùng sông Mêkông (GMS), rộng hơn là ASEAN, rồi tới ASEAN - Trung Quốc, ASEAN – Australia…

Năm nay, Việt Nam đảm nhận Chủ tịch ASEAN. VCCI trong vai trò Chủ tịch Phòng Thương mại và Doanh nghiệp ASEAN (ACCI) và Chủ tịch Hội đồng Kinh doanh ASEAN (ABAC). Cơ hội để phát huy thị trường nội địa trong phạm vi mới đang mở ra điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam bắt kịp với các doanh nghiệp trong khu vực.

“Chúng tôi đang đề nghị sửa đổi điều lệ của ACCI, lồng ghép hoạt động của ACCI và ABAC vốn đang khá tách biệt. Sự hợp tác mà chúng tôi với vai trò Chủ tịch ACCI hướng tới là cùng lớn để trở thành đối tác với các doanh nghiệp khu vực khác, có thể cạnh tranh với các khu vực khác. Hơn thế, sự gắn kết thông qua kế hoạch, phân công, hợp tác, liên kết… sẽ tăng lợi thế cho doanh nghiệp Việt Nam khi cạnh tranh, tránh tình trạng triệt tiêu lẫn nhau. Cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam sẽ chủ động tạo ra các liên kết có lợi cho mình thay vì thụ động với các liên kết sẵn có”.

Điểm yếu của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam vẫn là sản xuất nhỏ, năng suất thấp, chi phí cao. Nếu như xây dựng được các liên kết trong các lĩnh vực Việt Nam đang có lợi thế, doanh nghiệp Việt Nam sẽ hưởng lợi từ quy mô kinh tế, từ kinh nghiệm sản xuất, và quan trọng là thu hẹp dần khoảng cách trong thị trường khi nhiều doanh nghiệp trong ASEAN đã có những hệ thống phân phối tên tuổi. Và việc thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài đến Việt Nam cũng sẽ theo nghĩa tới một không gian kinh tế rộng hơn, vị trí đầu mối trong các liên kết kinh tế của khu vực.

Chủ động kết nối

“Có một thực tế là không nhiều doanh nghiệp nước ngoài, nhất là khu vực Tây Âu, chủ động tìm hiểu thông tin về Việt Nam. Có thể Việt Nam chưa đủ hấp dẫn để họ chủ động tìm đến. Có thể thông tin trên Internet, trên các thông báo chính thức chưa đủ để bật lên các cơ hội. Vậy thì chúng ta phải đến để giới thiệu mình. Đó là lý do mà các diễn đàn doanh nghiệp do VCCI tổ chức luôn gắn với các hoạt động ngoại giao của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Bản thân sự gắn kết đó, theo tôi, là một thông điệp thiết thực. Các nhà đầu tư nước sở tại sẽ nhìn thấy cơ hội đáng tin cậy thông qua các cam kết chính trị gắn với cam kết kinh doanh của lãnh đạo Chính phủ hai nước”.

Thời gian 3 -5 ngày cho một chuyến đi tháp tùng các vị lãnh đạo tới các quốc gia trên thế giới không thể đủ để một hợp đồng, một kế hoạch hợp tác được triển khai, nhưng đó là sự kết nối của những kế hoạch, chiến lược dài hạn. Nhiều doanh nghiệp cũng không kỳ vọng có thể mở ra một thị trường mới, song điều mà nhiều doanh nghiệp chia sẻ, đó là họ được tận mắt chứng kiến những cam kết chính trị, được trực tiếp giao lưu và hiểu về thị trường, đối tác mình đang nhắm tới, hiểu doanh nghiệp Việt Nam, hiểu chính bản thân mình đang ở đâu trong thị trường toàn cầu rộng lớn…  Cái được có vẻ khó diễn ra bằng các báo cáo hay những con số được ký kết.

“Tôi đã tham gia dẫn đầu nhiều đoàn doanh nghiệp tháp tùng các chuyến đi của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Câu chuyện kinh doanh của các doanh nghiệp dường như ít được bàn cụ thể. Nhưng sau mỗi lần trở lại, các cuộc làm việc song phương với các đối tác, các buổi gặp gỡ bạn bè của các doanh nghiệp Việt Nam và các đối tác hình như xít xao hơn. Những thông điệp trên các diễn đàn đã được chuyển thành những hợp đồng, những thoả thuận trên bàn đàm phán. Thương hiệu Việt Nam chắc cũng sẽ xuất hiện và thành danh từ những con đường đó”.

Niềm tin doanh nghiệp

Đương nhiên, không gian mới, vị trí mới sẽ buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải tái cơ cấu để hoà nhập, để tương thích, để cạnh tranh và phát triển. Câu chuyện trở lại yêu cầu về tư duy quản trị, tính chuyên nghiệp, tầm nhìn dài hạn.

“Để nói ngắn gọn một nhận xét riêng về doanh nghiệp năm 2009, tôi muốn nói là, chính doanh nghiệp Việt Nam là người thắng cuộc. Nhiều dự báo hồi đầu năm khá bi quan. Các chuyên gia kinh tế đã đưa ra nhiều kịch bản ẩn chứa nhiều rủi ro. Ngay khi đó, trong khảo sát của VCCI với cộng đồng doanh nghiệp, 90% doanh nghiệp cho biết, họ sẽ tiếp tục kinh doanh, chỉ có 10% nhắc tới khả năng khó tiếp tục. Nhiều ý kiến cho rằng, doanh nghiệp khi đó không hiểu hết những khó khăn mà kinh tế vĩ mô đang ẩn chứa.

Nhưng thực tế cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam đã làm được nhiều hơn những gì mà các chuyên gia kinh tế dự báo. Điều tôi cảm nhận được đó là họ tin tưởng thực sự vào các kế hoạch kinh doanh, vào môi trường kinh doanh của Việt Nam. Chính lòng tin, sự lạc quan đó đã giảm đi những thách thức, tăng khả năng nhận biết và tận dụng các cơ hội. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam ít khi chịu bó tay trước thách thức”.

Gói hỗ trợ lãi suất của Chính phủ vào đầu năm 2009 có thể không đến hết tất cả các doanh nghiệp, nhưng yếu tố lan toả rất lớn khi một bộ phận doanh nghiệp nhận được hỗ trợ là bạn hàng, là đối tác… của nhiều doanh nghiệp khác. Một mắt xích được neo chặt cũng giúp các mắt xích khác bình ổn.

“Đây là lý do tôi tin rằng, năm 2010, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam sẽ phục hồi nhanh hơn. Tiềm lực và niềm tin trong cộng đồng doanh nghiệp chính là bệ đỡ cho các kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp. Tất nhiên, sẽ đòi hỏi những thay đổi lớn khi giới hạn thị trường nội địa rộng hơn, cạnh tranh gay gắt hơn song hành với cơ hội dành cho những người chuyên nghiệp hơn. Điều quan trọng nữa là, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam cần nhìn thấy sự tin tưởng, các điều kiện để niềm tin của doanh nghiệp được giữ vững, được khơi dậy. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, niềm tin mà doanh nghiệp dành cho Chính phủ, cho cách điều hành kinh tế của Chính phủ sẽ là lời đáp cho bài toán biến thách thức thành cơ hội của các doanh nghiệp”.