Các dự báo gần đây đều theo hướng nền kinh tế thế giới đã phục hồi, mặc dù còn tiềm ẩn những nhân tố không ổn định. Các nước sẽ điều chỉnh chiến lược đối ngoại để phù hợp với bối cảnh mới về chính trị và kinh tế thế giới. Các tập đoàn kinh tế lớn- TNCs cũng có những thay đổi trong chiến lược kinh doanh và đầu tư trên phạm vi toàn cầu.
Báo cáo năm 2010 của Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp Quốc- UNCTAD về đầu tư quốc tế đã dự báo năm nay FDI thế giới hơn 1,2 nghìn tỷ USD, năm 2011 là 1,3-1,5 nghìn tỷ USD và năm 2012 là 1,6-2.0 nghìn tỷ USD.
Bài này bàn về triển vọng đầu tư trực tiếp nước ngoài- FDI của nước ta và một vài định hướng để thích ứng với tình hình FDI thế giới sau khủng hoảng kinh tế.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài- FDI là điểm sáng nhất trong bức tranh kinh tế của Việt Nam trong hai năm 2007 và 2008.
Sau 6 năm 1999- 2004 giảm sút nghiêm trọng, làn sóng FDI thứ hai được bắt đầu từ 2005 có bước đột phá trong năm 2007 và năm 2008 với mức tăng trưởng khá cao. Năm 2006 vốn đăng ký là 12 tỷ USD, vốn thực hiện là 4,1 tỷ USD, năm 2007 các con số tương ứng là là 21,34 và 8,03 tỷ USD, năm 2008 là 64 và 11,6 tỷ USD.
Năm 2009 cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế- xã hội của nước ta, trong đó có FDI. Từ quý I đến quý III tốc độ tăng trưởng kinh tế, sản xuất và kinh doanh, xuất khẩu và đầu tư giảm sút nghiêm trọng, nhưng do kết quả các giải pháp của Chính phủ, cùng với sự biến động của kinh tế thế giới theo hướng tích cực, quý IV đã có xu hướng hồi phục.
FDI có vốn đăng ký 20 tỷ USD và vốn thực hiện 10 tỷ USD. Đó là kết quả đáng khích lệ nếu so với mức giảm gần 2/3 FDI toàn cầu vào các nước đang phát triển và 25-30% ở một số nước trong khu vực ( các con số đó đều là vốn thực hiện).
Do khủng hoảng kinh tế nên vốn FDI chảy vào các nền kinh tế mới nổi năm 2009 khoảng 165 tỷ USD, chỉ bằng gần 1/3 của năm 2008- 466 tỷ USD, hoạt động mua bán, sát nhập- M&A trở nên sôi động hơn.
Những khoản tín dụng đầu tư không còn dồi dào như các năm trước và những hợp đồng cho vay cũng trở nên chặt chẽ hơn với các điều kiện ràng buộc, do đó nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn trong việc thu xếp tín dụng cho các dự án mới.
Trước trạng thái mới của thị trường thế giới, các TNCs phải đánh giá lại chiến lược kinh doanh và đầu tư của họ, tạm thời phải thu hẹp phạm vi và đình hoãn một số dự án đầu tư không có khả năng thu xếp các khoản tín dụng. Do vậy, nhiều dự án FDI đã được cấp phép có khả năng dãn tiến độ, thu hẹp quy mô hoặc không thực hiện, làm cho tỷ lệ vốn FDI thực hiện so với vốn FDI đăng ký giảm so với những năm trước.
Sáu tháng đầu năm 2010 vốn đăng ký đạt 8,34 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 5,4 tỷ USD, triển vọng cả năm vốn đăng ký trên 20 tỷ USD và vốn thực hiên 12- 13 tỷ USD, bằng hoặc vượt mức năm 2008.
Tuy vốn đăng ký FDI năm 2009 và 2010 của nước ta giảm khá nhiều so với năm 2008, nhưng không nên coi đó là một tai họa, vì vốn đăng ký chỉ mới thể hiện cam kết của các nhà đầu tư quốc tế, biểu hiện xu thế phát triển FDI vào một nước, nhưng chưa phải là hoạt động thực tế của FDI.
Vốn thực hiện là chỉ tiêu quan trọng nhất, trong đó khoảng 80% là vốn từ nước ngoài đưa vào Việt Nam, năm 2009 giảm khoảng 14% so với năm 2008 là kết quả đáng khích lệ.
Theo một báo cáo về FDI toàn cầu thì trong nhóm các nước mới nổi- BRIC ( Brazin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc ) là thị trường đầu tư hấp dẫn nhất, sau đó đến Việt Nam và một vài nước khác. Đánh giá đó dựa trên triển vọng trung hạn và dài hạn về dung lượng thị trường và môi trường đầu tư. Nước ta đã có tổng GDP gần 100 tỷ USD, đã vượt qua mức thu nhập bình quân đầu người của nhóm nước có thu nhập thấp, với thị trường nội địa được xếp hạng có mức tăng trưởng hàng đầu thế giới, là nền kinh tế có độ mở lớn trong giao dịch thương mại thế giới- tổng kim ngạch ngoại thương bằng 1,5 lần GDP, có môi trường đầu tư đang dần được cải thiện bằng những nổ lực của Chính phủ về hoàn thiện thể chế trước và sau khi gia nhập WTO, phân cấp quản lý nhà nước cho chính quyền địa phương theo hướng phi tập trung hóa, cải cách thủ tục hành chính.
Độ tín nhiệm của Việt Nam cũng được thể hiện rõ nhất là mặc dù các nước lớn đều phải đối phó với khủng hoảng toàn cầu nhưng khoản viện trợ phát triển- ODA cho Việt Nam được các nhà tài trợ cam kết vào cuối năm 2009 là 8 tỷ USD, con số khá hấp dẫn với nhiều nước đang phát triển. Thử hỏi nếu các tổ chức tài chính thế giới như WB, IMF, ADB và các nước không đánh giá cao thế và lực của Việt Nam, cũng như việc sử dụng có hiệu quả ODA và khả năng trả nợ của nước ta thì làm sao có được khoản ODA lớn đó(!). Những lo lắng của người dân về gánh nặng nợ quốc gia để lại cho con cháu đời sau là chính đáng, nhưng cũng cần thấy rằng không phải nước nào và lúc nào cũng được cộng đồng quốc tế mở hầu bao cho vay nhiều như vậy. Vấn đề còn lại là cần có cơ chế đủ mạnh để các doanh nghiệp được vay lại vốn ODA từ Chính phủ phải thực hiện có hiệu quả và phải hoàn lại cả vốn và lãi đúng thời hạn.
Việc nước ta tiếp tục thực hiện các cam kết quốc tế trong khung khổ WTO, AFTA, FTA ASEAN- Trung Quốc theo hướng dỡ bỏ dần hàng rào quan thuế và hài hòa hóa hải quan, mở cữa thị trường nội địa từ ngày 1/1/2009 “các công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối được phép cung cấp dịch vụ đại lý hoa hồng, bán buôn, bán lẻ tất cả các sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam và các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam, ngoại trừ: xi măng và clinke, lốp (trừ lốp máy bay), giấy, sắt thép, thiết bị nghe nhìn, rượu và phân bón”; những ngoại trừ này được bãi bỏ sau ba năm kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO tức là từ 1/1/2010, tạo ra lực hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư quốc tế.
Cần nhắc lại rằng, năm 2008 vấn đề này đã được bàn luận trên các phương tiện truyền thông đại chúng theo hướng băn khoăn, lo ngại nhiều doanh nghiệp phân phối hàng hóa trong nước khó đứng vững “ trên sân nhà”, đã có những cảnh báo về nguy cơ phá sản hàng loạt doanh nghiệp. Thực tế đã không diễn ra như vậy. Hàng hóa và dịch vụ trên thị trường trở nên đa dạng và phong phú hơn, người tiêu dùng được quyền rộng rãi hơn khi lựa chọn kiểu dáng, nhà cung cấp, loại dịch vụ và tiếp cận với thế giới; đại bộ phận doanh nghiệp Việt Nam đã biết cách thích nghi, không những đứng vững mà còn vươn lên trong môi trường cạnh tranh
Báo cáo mới nhất của Cục đầu tư nước ngoài cho biết, tính đến tháng 6 năm 2010 tổng vốn đăng kýlà 187 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện là 72 tỷ USD, trừ 20% vốn trong nước thì vốn nước ngoài là 58 tỷ USD ( con số của UNCTAD là 44 tỷ USD đến cuối năm 2009 ).
Bốn vấn đề chủ yếu có quan hệ với FDI hiện cần được lưu ý:
Thứ nhất là thể chế kinh tế chậm được hoàn chỉnh nhanh và đồng bộ. Năm 2010 là năm thứ tư kể từ khi Việt Nam là thành viên chính thức của WTO, đồng thời là năm nước ta tiến gần hơn thời điểm về cơ bản bỏ hàng rào quan thuế để thực hiện cam kết trong khung khổ AFTA, tuy thế vẩn còn không ít vấn đề cần giải quyết về thể chế kinh tế theo hướng tự do hóa thương mại và đầu tư. Trở ngại lớn nhất là quan điểm, nhận thức không thống nhất giữa các cơ quan hoạch định chính sách đã làm nảy sinh tình trạng “ông chằng bà chuộc” trong các văn bản pháp luật, tính hệ thống- một nhược điểm lớn của luật pháp nước ta tuy đã dược phát hiện từ nhiều năm nay nhưng xem ra vẩn chưa được khắc phục. Chủ trương phân cấp cho chính quyền tỉnh, thành phố cấp phép các dự án FDI làm cho tính năng động, sáng tạo và quyền tự chủ của địa phương được đề cao, nhưng cũng đã nảy sinh nhiều vấn đề, nhất là vì lợi ích cục bộ của địa phương đã phá vỡ tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân và kinh tế vùng lãnh thổ.
Thứ hai là cơ sở hạ tầng kỷ thuật chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Cũng vẩn là chuyện cũ được lặp lại: đường bộ, đường sắt, cảng biển…những vấn đề đã được đề cập đến từ những năm giữa thập niên 90 của thế kỷ trước. 15 năm đã qua nhưng hệ thống giao thông của nước ta dường như chuyển động rất chậm, chưa có được một con đường cao tốc đúng nghĩa, tốc độ của đường sắt vẩn vào loại chậm nhất thế giới. Trong khi xe cộ, hàng hóa, du lịch tăng nhanh thì tình trạng ách tắc giao thông, chậm trễ giải phóng hàng hóa ở cảng biển trở nên nghiêm trọng hơn.
Thứ ba là lợi thế nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công thấp đang giảm dần trong khi lại thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao. Việc lôi kéo những tập đoàn lớn, công nghệ cao như Intel, LG, Canon…vào nước ta là một thành công đối với FDI, nhưng cũng đặt ra vấn đề nghiêm túc cho đất nước là phải thật sự chuyển hướng hệ thống đào tạo đại học, chuyên nghiệp và dạy nghề để đáp ứng dược nhu cầu về công nhân lành nghề, kỷ sư, cán bộ quản lý. Sự chậm chuyển hướng của ngành giáo dục là nguyên nhân chính làm nảy sinh nhược điểm mới về nguồn nhân lực của nước ta, mà nếu không sớm được khắc phục thì có nguy cơ dẫm vào vết xe đổ của một số nước đi trước, đất nước sẽ sập bẩy của các quốc gia thất bại, khi đã vượt ngưỡng của nhóm nước có thu nhập thấp của thế giới mà tăng trưởng kinh tế vẩn dựa trên cơ sở thâm dụng vốn và lao động.
Thứ tư là chủ trương xây dựng “ nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân”chưa đáp ứng được đòi hỏi của người dân và doanh nghiệp. Những tiếng kêu từ người dân bình thường và các doanh nghiệp về thái độ hách dịch, cữa quyền, sách nhiễu, tham nhũng của công chức là quá nhiều và quá phổ biến. Chủ trương cải cách nền hành chính quốc gia đã được coi như một nhiệm vụ quan trọng từ nhiều năm nay, nhưng xem ra những tiến bộ vẩn còn quá ít và tiếng kêu thì vẩn còn nhiều (!). Tính nghiêm trọng của vấn đề có liên quan đến tương lai của quá trình phát triển đất nước, bởi vì đã có những tính toán cả về khoản chi phí khổng lồ đã bị đánh mất, cũng như sự giảm sút vài ba điểm phần trăm tăng trưởng kinh tế do bộ máy công quyền gây ra.
Đó là bốn vấn đề chủ yếu đã tồn tại từ nhiều năm đang đòi hỏi những giải pháp hữu hiệu hơn để giải quyết nhanh chóng và cơ bản.
Sau khủng hoảng kinh tế, Chính phủ chủ trương tái cơ cấu kinh tế theo hướng hiệu quả cao hơn và bảo đảm bền vững hơn.
FDI vào Việt Nam cần được điều chỉnh định hướng và chính sách để đáp ứng tốt nhất các mục tiêu kinh tế- xã hội gắn với tái cơ cấu kinh tế:
1) Nâng cao chất lượng FDI cần được coi là định hướng quan trọng nhất. Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đã trải qua giai đoạn vừa coi trọng số lượng vừa coi trọng chất lượng FDI. Khoảng 10 năm kể từ khi Quốc hội ban hành Luật đầu tư nước ngoài tháng 12/1987 là thời gian cần có nhiều dự án mới, kể cả dự án nhỏ vài trăm nghìn USD, bởi vì tiềm lực kinh tế của đất nước có hạn, doanh nghiệp trong nước còn quá ít; hơn 10 năm tiếp theo đã chuyển hướng sang coi trọng cơ cấu và chất lượng, nhưng vẩn còn khá nhiều dự án nhỏ tạo việc làm cho vài trăm lao động ở một số địa phương.
Trong những năm tới, nước ta phải giải quyết bài toán nâng cao hiệu quả đầu tư kể cả trong nước và FDI để hướng tới hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại, do vậy chất lượng phải trở thành tiêu chí hàng đầu trong việc thu hút FDI.
Chất lượng FDI được đo lường bằng mức độ phù hợp của từng dự án với cơ cấu kinh tế của cả nước, từng vùng lãnh thổ trong thập niên tới. Theo đó, các dự án được ưu tiên là công nghệ điện tử, tin học, dịch vụ cao cấp, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, cơ sở y tế và chăm sóc sức khỏe hiện đại, xây dựng hạ tầng kỷ thuật.
Trên cơ sở các quy hoạch ngành kinh tế- kỷ thuật gắn với quy hoạch vùng lãnh thổ đã được hoạch định dựa trên căn cứ khoa học và từ kinh nghiệm thực tế, có sự bổ sung và điều chỉnh khi cần thiết, tận dụng lợi thế chung của nước ta cũng như lợi thế đặc thù của từng vùng lãnh thổ, các bộ, chính quyền tỉnh, thành phố lựa chọn dự án FDI không phải theo ý đồ của nhà đầu tư như tình trạng khá phổ biến hiện nay, mà phải theo đúng quy hoạch. Đương nhiên FDI còn xuất phát từ lợi ích của nhà đầu tư, họ có quyền lựa chọn địa điểm để thực hiện dự án, nhưng yêu cầu chất lượng FDI phải được đặt trên căn bản lợi ích dân tộc trong công cuộc chấn hưng đất nước để ganh đua về sức mạnh kinh tế với các nước khác trong một thế giới toàn cầu hóa.
Chất lượng FDI được đặt ra trong điều kiện doanh nghiệp Việt Nam đã gia tăng nhanh chóng về số lượng và một số trong đó đã tích tụ vốn trở thành những doanh nghiệp lớn, có trình độ công nghệ và quản trị doanh nghiệp cao, do vậy cần phải quan tâm đúng mức đến các doanh nghiệp trong nước. Không phải là bảo hộ mậu dịch để dung dưỡng độc quyền, mà là xuất phát từ lợi ích dân tộc trong quản lý đất nước theo hướng lĩnh vực, ngành nghề mà các doanh nghiệp trong nước đầu tư và kinh doanh có chất lượng, chi phí so sánh được với dự án FDI thì ưu tiên cho các doanh nghiệp trong nước. Ở đây đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước vận dụng thông minh, linh hoạt các cam kết quốc tế về mở cữa thị trường, bởi vì có cả tá hàng rào kỷ thuật theo quy định của WTO mà hiện chưa được áp dụng ở nước ta.
Chất lượng FDI gắn với việc xử lý mối quan hệ giữa thị trường trong nước với xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ. Hai năm vừa qua, thị trường trong nước như là “ khám phá mới” của nhiều doanh nghiệp khi gặp khó khăn về xuất khẩu, nhưng đó lại là một trong những vấn đề cơ bản của nước ta, một nước hiện có dân số trên 85 triệu người và sau năm 2020 là 100 triệu người, có thu nhập ngày càng cao, đặc biệt có lối sống coi trọng tiêu dùng, kể cả hàng hóa thời thượng. Chỉ cần lấy con số từ vài nghìn xe ô tô cách đây mười năm, đến gần 200 nghìn xe ô tô cá nhân được tiêu thụ ở nước ta trong năm 2009 đủ thấy sức mua của người Việt Nam tăng nhanh đến mức nào. Các dự án FDI sẽ được điều chỉnh theo hướng vừa coi trọng xuất khẩu mà những năm sắp đến nước ta vẩn theo đuổi, đồng thời tham gia thị trường nội địa để vừa tạo ra những sản phẩm mới, chất lượng cao, duy trì trạng thái cạnh tranh trên thị trường là vấn đề cần được các cơ quan hoạch định chính sách nghiên cứu và có định hướng rõ ràng đối với các nhà đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước. Cuộc vận động “ Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đã thu được kết quả đáng khích lệ, chất lượng sản phẩm đã được nâng lên, kiểu dáng hàng hóa đã hấp dẫn hơn và mẫu mã đa dạng hơn.
2) FDI với kinh tế vùng và địa phương cần được điều chỉnh về quan điểm, nhận thức để có giải pháp đúng.
Tính đến cuối năm 2009, có 21 tỉnh và thành phố thu hút trên 1 tỷ USD vốn FDI đăng ký, trong đó có 10 địa phương trên 5 tỷ USD. Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu, Bình Dương chiếm khoảng 60% tống vốn FDI đăng ký cả nước. Rất nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Nam Bộ có rất ít dự án FDI, mặc dù Chính phủ đã có chính sách ưu đãi đặc biệt cho các tỉnh đó và chính quyền địa phương rất quan tâm đến hoạt động xúc tiến đầu tư. Thực trạng đó đặt ra hai vấn đề cần được giải quyết: phân bố nguồn lực và hạ tầng kỹ thuật, xã hội.
Việc phân bố nguồn lực bao gồm FDI cần được điều chỉnh theo hướng vừa tạo ra một số đầu tàu kinh tế ở những địa phương có sức lôi kéo kinh tế vùng và cả nước như Hà Nội và TPHCM, nhưng lại phải điều phối hợp lý để thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội ở những địa phương chậm phát triển, chưa có môi trường thuận lợi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Những địa phương này cần được Chính phủ ưu tiên trong việc phân bố nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, có chính sách khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp tại địa phương và doanh nghiệp trong nước đầu tư và kinh doanh. Các tập đoàn kinh tế nhà nước có trách nhiệm phân bố nguồn lực cho các địa phương này để giải quyết một số vấn đề kinh tế- xã hội bức thiết, nhất là xóa đói, giảm nghèo, không làm giãn thêm khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế so với các địa phương có điều kiện thuận lợi hơn.
Để thu hút vốn FDI vào các địa phương kém phát triển thì quan trọng nhất là xây dựng hạ tầng kỷ thuật và xã hội. Kinh nghiệm của nhiều tỉnh đã chỉ ra rằng, chính sách ưu đãi thuế, đất đai là cần nhưng chưa đủ hấp dẫn nhà đầu tư, mà chính là mạng lưới đường giao thông hiện đại, cung ứng điện, nước đầy đủ, có phương tiện thông tin hoàn chỉnh có thể liên lạc với thế giới, có các trường đào tạo nghề đủ cung ứng cho các dự án đầu tư về số lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực. Từng địa phương không thể tự giải quyết được những vấn đề to lớn đó, mà cần có sự quản lý thống nhất của Chính phủ để giải quyết dứt điểm từng vấn đề trong một thời gian nhất định, theo quan điểm hình thành kinh tế vùng lãnh thổ với sự phân công và hợp tác của nhiều địa phương, được điều hành bằng cơ chế và cơ cấu tổ chức thích hợp.
3) Thị trường và đối tác FDI cần được điều chỉnh hướng vào thực hiện mục tiêu kinh tế- xã hội của chiến lược 2011-2020.
Tính đến cuối năm 2009 đã có 89 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư gần 11 nghìn dự án tại Việt Nam. Những năm gần đây thị trường đầu tư của nước ta đã thay đổi theo hướng tích cực, từ chổ chủ yếu là các quốc gia châu Á, hiện nay nhiều nước công nghiệp phát triển trong tổ chức OECD đã có những dự án lớn ở nước ta. Tuy vậy, một số nước hàng đầu ở Châu Âu như Đức, Pháp, Anh còn có ít dự án FDI mặc dù quan hệ hợp tác giữa nước ta với EU đã được cải thiện rõ rệt. Mỹ là nước đứng đầu thế giới về đầu tư ra nước ngoài, nhưng kể từ khi ký BTA với Việt Nam, trong khi kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của nước ta vào Mỹ năm 2009 so với năm 2001 tăng 13 lần thì FDI của Mỹ tại Việt Nam không được như chúng ta mong muốn, trước khi có BTA, thời kỳ 1996- 2001 vốn thực hiện bình quân đạt 248 triệu USD/năm, 2002- 2009 con số đó là 479 triêu USD/ năm, chưa đến hai lần.
Việt Nam cũng khá thành công trong việc thu hút FDI của các TNCs hàng đầu thế giới. Sự hiện diện của IBM, Intel, Canon, LG, Toyota…tại thị trường Việt Nam không những tạo ra sản phẩm công nghệ cao mà còn có sức lôi kéo các nhà đầu tư đầy tiềm năng. Tuy vậy, số lượng các doanh nghiệp trong danh mục 500 TNCs lớn nhất thế giới đầu tư vào Việt Nam còn quá it nếu so với Thái Lan, Indonesia, Malaysia.
Làm gì để có sự chuyển động mạnh mẽ thị trường và đối tác FDI trong thập niến tới (?).
Nước ta đã chuyển sang giai đoạn mới của quá trình phát triển kinh tế- xã hội hướng đến mục tiêu trở thành nước cơ bản công nghiệp hóa theo hướng hiện đại vào năm 2020, nhiều dự án lớn đang chờ đợi các TNCs từ các nước thuộc tổ chức OECD, đó là tiền đề vật chất quan trọng có sức hấp dẫn đối với họ.
Vấn đề còn lại là nhận biết đầy đủ những đòi hỏi của các nhà đầu tư lớn, trước hết là luật pháp cần phải nhất quán, đồng bộ, bảo đảm công khai và minh bạch. Các TNCs đòi hỏi rất khắt khe về việc thực thi nghiêm chỉnh luật pháp, điển hình là luật sở hữu trí tuệ, cũng như hoạt động độc lập của các tòa án khi xử các vụ kiện thương mại và dầu tư quốc tế.
Tổ chức OECD ban hành những chỉ dẫn khá hoàn chỉnh và chi tiết về việc các doanh nghiệp thuộc tổ chức này được làm và không được phép làm khi đầu tư vào một quốc gia. Những quy định đó cần được các bộ, chính quyền địa phương tham khảo khi xây dựng thể chế và trong quản lý nhà nước đối với FDI.
Cũng cần nghiên cứu việc nước ta thông qua FDI với các TNCs hàng đầu thế giới tham gia có hiệu quả và hệ thống sản xuất toàn cầu. Tác động lan tỏa của FDI chính là từ việc lôi kéo được các TNCs để phát huy lợi thế của đất nước tạo ra những sản phẩm, ngành nghề, dịch vụ mới và hiện đại thông qua việc lựa chọn có tính toán để nước ta tham gia vào một số khâu, một số sản phẩm có quy mô đủ lớn trong từng hệ thống sản xuất toàn cầu. Đó là một vấn đề cần được nghiên cứu khi xây dựng chiến lược kinh tế- xã hội 2011-2020.
Với mạng internet toàn cầu không khó để có được những thông tin về ý đồ và năng lực của nhà đầu tư. Khi được mời làm tư vấn cho một tỉnh, chúng tôi đã tìm trên website của một tập đoàn lớn về thép của Châu Á đang thương thảo với một Tổng công ty nhà nước của ta về dự án thép, thì được biết tập đoàn này chủ trương mua lại các nhà máy đang hoạt động chứ chưa đầu tư dự án mới; đã cung cấp thông tin đó cho lãnh đạo tỉnh và trên thực tế sau ba năm làm ra vẻ muốn thực hiện dự án thép lớn, nhưng họ vẩn gần như “ án binh bất động”.
Cũng có trường hợp do vị Chủ tịch Hội đồng quản trị doanh nghiệp gia đình nước ngoài, người có tiếng nói quyết định về việc đầu tư vào Việt Nam dự án hơn 10 tỷ USD, từ trần, các cổ đông chủ chốt có sự chia rẽ trong việc thực hiện ý đồ đó, làm cho việc triển khai dự gặp khó khăn.
Trong khủng hoảng kinh tế, nhiều ngân hàng không thể tiếp tục cam kết tín dụng đối với một số dự án FDI ở nước ta buộc nhà đầu tư tạm hoãn hoặc không triển khai. Sau khủng hoảng, các TNC điều chỉnh thị trường đầu tư, có thể Việt Nam không còn được lựa chọn. Thậm chí sự cố tràn dầu bất khả kháng của Tập đoàn dầu khí BP đã buộc họ phải bán dự án ở nước ta để thu hồi vôn, trang trải thiệt hại.
Đối với các TNCs thì việc đọc được ý đồ của họ là rất quan trọng, muốn vậy các cơ quan chức năng của địa phương, nhất là Sở Kế hoạch& Đầu tư, Ban quản lý Khu công nghiệp, Khu kinh tế, Khu chế xuất phải thu thập, xử lý các thông tin có liên quan đến nhà đầu tư, kể cả việc đề nghị họ cung cấp bản quyết toán năm trước đó đã được kiểm toán độc lập. Đối với nhà đầu tư không có tiềm lực tài chính, muốn lợi dụng sự thông thoáng của quản lý nhà nước để trục lợi thì có thể áp dụng phương thức ký quỹ tại một tài khoản ở ngân hàng thương mại 1-2 % tổng vốn đầu tư, khi họ thực hiện dự án được hoàn lai tiền ký quỹ.
Chuyển sang giai đoạn mới cần có những thay đổi về chính sách FDI.
Trong gần ¼ thế kỷ vừa qua nước ta đã nhiều lần sửa đổi, bổ sung Luật đầu tư. Tuy vậy về cơ bản chính sách thu hút FDI đang thực hiện vẩn tiếp tục tư tưởng chính sách của Luật đầu tư nước ngoài năm 1987, trong khi đất nước đã có những bước tiến dài, doanh nghiệp trong nước đã lớn mạnh; do vậy cần cần chuyển hướng sang Chính sách nâng cấp FDI và Chính sách liên kết doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước để tiến tới có được các doanh nghiệp dân tộc hùng mạnh.
Việc Quốc hội nước ta thông qua Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp năm 2005 là một bước tiến lớn về chính sách thu hút FDI. Vấn đề đặt ra là việc thực hiện chính sách phải thống nhất trong cả nước, không được để xảy ra tình trạng “ phép vua thua lệ làng”, một số tỉnh, thành phố tự ban hành các quy định trái luật, ưu đãi quá mức cần thiết cho nhà đầu tư chỉ vì muốn có được dự án FDI, mà không tính đến lợi ích của địa phương và của cả nước.
Hiện nay cần nghiên cứu để có được chính sách nâng cấp FDI theo những định hướng ưu tiên ngành, lĩnh vực và đối tác đầu tư. Đối với các dự án công nghệ cao cần có chính sách đủ hấp dẫn các nhà đầu tư lớn trong điều kiên cạnh tranh thu hút FDI giữa các nước rất gay gắt. Kinh nghiệm thành công về việc kéo Intel vào nước ta để thực hiện dự án lớn trong khi ba nước khác trong khu vực cũng tìm mọi cách để có được dự án này, đã cho thấy không chỉ là chính sách chung mà phải biết nhân nhượng trên cơ sơ bảo đảm lợi ích lâu dài đối với từng dự án của TNCs. Cũng cần tổng kết thực tiễn việc lựa chọn và ban hành chính sách ưu đãi khá đặc biệt đối với khu kinh tế mở Chu Lai, Kho công nghệ cao Hòa Lạc mà sau nhiều năm chỉ thu được kết quả khá khiêm tốn, để rút ra những bài học cần thiết khi xây dựng chính sách nâng cấp FDI.
Chính sách khuyến khích các mối liên kết giữa TNCs với các doanh nghiệp trong nước hiện chưa được chú ý đúng mức, khi mà các doanh nghiệp Việt Nam đã lớn mạnh hơn trước rất nhiều. Trong những năm gần đây đã có sự chuyển biến đáng quan tâm trong các hình thức đầu tư. Nếu như trước năm 2000 các doanh nghiệp liên doanh chiếm tỷ trọng 60-70% các dự án FDI, thì từ đầu thế kỷ 21 đến nay các doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài chiếm tỷ trọng đó. Hầu như chưa có một nghiên cứu nào từ các cơ quan quản lý nhà nước về xu hướng phát triển này đã đặt ra những vấn đề gì cho đất nước, nhất là sức lan tỏa tác động FDI đối với các doanh nghiệp trong nước. Đã đến lúc cần có những chỉ dẫn gắn với các quy định của Chính phủ về lĩnh vực, ngành nghề, dự án cần được liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp Việt Nam, trên cơ sơ bảo đảm rằng, việc khuyến khích FDI không gây trở ngại đối với chủ trương hình thành doanh nghiệp dân tộc ngày càng lớn mạnh, đủ sức làm chủ thị trường trong nước và từng bước có chổ đứng vững chắc trên thị trường khu vực và thế giới. Cũng cần có chính sách mua lại, sát nhập đối với các TNCs quốc tế, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam mua lại và sát nhập các doanh nghiệp FDI.
Cho dù nước ta vẩn kiên định chính sách khuyến khích FDI, nhưng cũng cần có các van an toàn để đề phòng sự lũng doạn thị trường, như đã từng xảy ra ở một số nước, khi một vài TNCs lợi dụng tình hình khó khăn về tài chính, tiền tệ và sự lỏng lẻo của hoạt động quản
Năm 2010 là năm cuối cùng của chiến lược kinh tế- xã hội 2001-2010, chuẩn bị hành trang cho thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, do vậy việc tổng kết FDI bằng những khảo sát có hệ thống hoạt động thực tiễn từ các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở, các địa phương, đánh giá đúng thành tựu và đóng góp của FDI, những khiếm khuyết cần khắc phục bao gốm cả chính sách, quản lý nhà nước, phân cấp cho các địa phương…để có được cơ sở thực tiễn làm căn cứ sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh chính sách FDI phù hợp với các định hướng và mục tiêu của chiến lược mới.
|
Những ý kiến phản biện tham luận GS Nguyễn Mại:
Ông Phạm Đỗ Chí:
Ông Nguyễn Đình Lương: - Đầu tư ở Việt Nam có 2 chân là FDI và đầu tư công, chân chắc là chân FDI do nhiều hệ thần kinh khác nhau điều khiển để đạt được lợi ích kinh tế, xã hội, chính trị ... Thực trạng nhiều liên doanh phía đối tác Việt Nam bị đánh bật ra ngoài, nhiều dự án FDI bị “treo”. - Nội lực của mô hình tăng trưởng Việt - Việt Nam kết nối vào nền kinh tế thế giới ở chuỗi giá trị thấp, “còng lưng đạp máy khâu”, nền kinh tế thế giói đang chuyển dịch rất nhanh. Tập đoàn Intel vào đầu tư ở Việt TS. Lê Anh Tuấn: Báo cáo mới nhất của IMF vào tháng 7/2010 cho thấy nền kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro. 70% tổng vốn đầu tư xã hội Việt Nam nằm ở khu vực công, nếu chuyển được luồng vốn này vào khu vực tư nhân thì sẽ mang lại hiệu quả cao hơn. TS. Trần Du Lịch: Độc lập tự chủ kinh tế không có nghĩa là từ cấp tự túc, quan trọng nhất của Việt Ý kiến thảo luận doanh nghiệp
Ông Nguyễn Công Ái: (Công ty kiểm toán KPMG Việt Kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn nhưng cũng là cơ hội. Một số doanh nghiệp Mỹ coi thị trường Việt
Ông Phạm Phú Ngọc Trai Sự không đồng bộ giữa chính sách đầu tư ở TW và địa phương đã gây khó khăn cho đầu tư FDI. Các công ty cần vốn đang nhắm đến hình thức IPO, kiến nghị UB CKNN đóng góp vào chính sách tài chính. Cần xem lại sự công bằng giữa các thành phần kinh tế. |






