Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Mại, chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, đến thời điểm hiện nay có thể nói, kinh tế thế giới đã thoát khỏi vùng đáy của suy thoái, tuy nhiên, đà phục hồi kinh tế có phầm chậm. Ông Mại đưa ra dẫn chứng, mới đây (ngày 22/7/2010), Tập đoàn Citigroup đưa ra dự báo, GDP thế giới năm 2010 có thể tăng trưởng 3,7%, tốc độ tăng trưởng của năm 2011 có thể đạt 3,3%. Như vậy hai mức dự báo trên giảm 0,1% so với trước đó. Tăng trưởng GDP của Mỹ bị điều chỉnh giảm 0,4% xuống 2,8%. Tăng trưởng GDP năm 2010 của Trung Quốc được điều chỉnh giảm 1% xuống mức 9,5%. Tốc độ tăng trưởng năm 2011 có thể đạt 8,8%, thấp hơn 0,5% so với dự báo trước đó.
Citigroup dự báo nhóm nền kinh tế mới nổi sẽ tăng trưởng 6,6% trong năm nay và 5,8% trong năm 2011, thấp hơn lần lượt 0,2% và 0,1% so với dự báo trước đó. Citigroup cho rằng kinh tế Nhật năm 2010 có thể tăng trưởng 3,6%, thấp hơn 0,1% so với dự báo trước đây. Tăng trưởng GDP của Nhật năm 2011 có thể là 1,9%, thấp hơn 0,2% so với dự báo lần gần nhất.
Dự báo khác của IMF (Tháng 7/2010) nâng dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới lên 4,3% trong năm 2010; ADB (ngày 20/7/2010) cũng nâng dự báo tăng trưởng năm 2010 của 14 nền kinh tế Đông Á lên 8,1% so với mức dự báo 7,7% (Tháng 4/2010). Tương tự, ADB cũng dự báo tăng trưởng của toàn bọ 45 nền kinh tế đang phát triển bộ khu vực Châu Á là 7,9% năm 2010, tăng so với dự báo 7,5% (tháng 4/2010). Dự báo cho năm 2011 vẫn ở mức 7,3%. Chủ tịch IMF Dominique Strauss-Kahn (ngày 11/7/2010) nhận định rằng thế giới đang ở đoạn cuối của khủng hoảng tài chính.
Đà phục hồi tăng trưởng kinh tế thế giới vẫn được duy trì trong nửa đầu năm 2010, song nhiều dự báo đưa ra trong tháng 7/2010 đã thống nhất nhận định triển vọng tăng trưởng kinh tế thế giới và tại các nền kinh tế chủ chốt sẽ chậm lại trong nửa cuối năm 2010.
Tình trạng thất nghiệp và thâm hụt tài khoá cao vẫn là hai cản trở chính đối với quá trình phục hồi tại các nền kinh tế phát triển như Mỹ, EU, Nhật Bản, trong khi đà phục hồi “nóng” của các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi lại đặt Chính phủ của họ trước bài toán “ngưng chính sách kích thích” để đạt được sự tăng trưởng bền vững hậu khủng hoảng.
Theo ông Mại, rõ ràng dòng vốn đầu tư gián tiếp chảy ra hay chảy vào quá nhiều trong một thời gian ngắn đều không tốt và cần sẵn sàng có những biện pháp điều tiết trong cả hai trường hợp. Do đặc điểm của sự phục hồi kinh tế là không đều, có thể trong nửa cuối năm 2010 sẽ xuất hiện sự “bất đối xứng” trong các ưu tiên chính sách vĩ mô giữa các nền kinh tế phát triển và các nền kinh tế đang phát triển, mới nổi.
Theo một báo cáo về FDI toàn cầu thì trong nhóm các nước mới nổi- BRIC (Brazin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc) là thị trường đầu tư hấp dẫn nhất, sau đó đến Việt Nam và một vài nước khác. “Năm 2009, đã diễn ra cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng ODA cho Việt Nam được các nhà tài trợ cam kết vào cuối năm 2009 là 8 tỷ USD. Đây là con số khá hấp dẫn với nhiều nước đang phát triển, thể hiện tín hiệu lạc quan, vì họ tin tưởng vào nền kinh tế Việt Nam mới cam kết tài trợ như vậy”, ông Mại nhận định, đồng thời cho biết, đánh giá của thế giới thì Việt Nam là một trong những nước đang dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng.
Để tận dụng và phát huy được thế mạnh này, theo ông Mại, cần có cơ chế đủ mạnh để các doanh nghiệp được vay lại vốn ODA từ Chính phủ phải thực hiện có hiệu quả và phải hoàn lại cả vốn và lãi đúng thời hạn. Thực hiện các cam kết quốc tế trong khung khổ WTO, AFTA, FTA ASEAN- Trung Quốc theo hướng dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan và hài hòa hóa hải quan, mở cửa thị trường nội địa từ ngày 1/1/2009. Phải nâng cao chất lượng FDI. Theo đó, cần điều chỉnh về quan điểm, nhận thức FDI với kinh tế vùng và địa phương. Không nên đặt ra vấn đề có bao nhiêu dự án FDI vào một địa phương, mà cần phải xác định được vốn FDI vào địa phương đó thì có lợi gì, ngân sách được cái gì, cộng đồng được cái gì và liệu chúng ta có phải giá về sự ảnh hưởng đến môi trường hay không?
Năm 2010 là năm cuối cùng của chiến lược kinh tế-xã hội 2001-2010, do vậy cần phải tổng kết FDI bằng những khảo sát có hệ thống, dựa trên những hoạt động thực tiễn của nhà đầu tư và thị trường nhằm đánh giá đúng thành tựu và đóng góp của FDI, những khiếm khuyết cần khắc phục bao gồm cả chính sách, quản lý nhà nước, phân cấp cho các địa phương…để có được cơ sở thực tiễn làm căn cứ sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh chính sách FDI phù hợp với các định hướng và mục tiêu của chiến lược mới.
|
Ông Nguyễn Văn Cảnh – Phó giám đốc Công ty Xăng dầu Khu vực II (thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Việt Với các ý kiến đa chiều về tăng trưởng kinh tế thế giới, nếu chúng ta quá lạc quan thì dễ dẫn đến sai lầm. Song, nếu quá trầm trọng vấn đề sẽ khiến doanh nghiệp đánh mất sự tự tin. Do đó, các nhà hoạch định chính sách Việt Nam cần thận trọng, nghiên cứu, theo dõi và đưa ra những nhận định khách quan về tình hình sắp tới của Việt Nam. Đây là thời điểm quan trọng, theo đó để đảm bảo sự ổn định, khu vực nhà nước và doanh nghiệp phải có sự liên thông về mặt thông tin. Bởi trên thực tế, sức cạnh tranh và “sức đề kháng” của doanh nghiệp Việt trong quá trình hội nhập vẫn còn hạn chế. Chính vì vậy, thông tin xác thực từ nhà nước là điều cần thiết. Tuy nhiên, về phía doanh nghiệp cũng cần chủ động để đưa ra những chính sách dài hạn trong việc kinh doanh, song, cần chuẩn bị thêm những giải pháp ngắn hạn để ứng phó với những biến động khôn lường từ sau đỉnh của khủng hoảng. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp cần rà soát lại doanh mục đầu tư và tái cấu trúc lại nguồn vốn (kể cả doanh nghiệp đã niêm yết), đầu tư có trọng điểm (có chọn lọc theo chiều rộng và phát huy thế mạnh theo chiều sâu). Để làm được điều này, trước mọi quyết định, tất cả các khu vực (nhà nước lẫn khu vực doanh nghiệp) trong nền kinh tế cần phải xuất phát từ “cầu thị trường” và diễn biến thực tế. Ông Nguyễn Công Ái – Giám đốc Điều hành Công ty Kiểm toán KPMG Việt Nam: Gần đây, thị trường thế giới biểu hiện nhiều khó khăn, các công ty và tập đoàn lớn đang thận trọng trong vấn đề chi tiêu. KPMG đã làm việc với một số doanh nghiệp Mỹ và họ đang cố gắng giảm chi phí khi tiếp cận thị trường nước ngoài. Vì thế, họ tìm đến những thị trường đáp ứng được những điều đó như: Việt Nam hay An Độ. Trong khi đó, báo cáo từ KPMG toàn cầu, chí phí đầu tư ở Trung Quốc trong những năm gần đây đang tăng. Cụ thể, chỉ trong vòng 4 năm, Tập đoàn Foxcom đã tăng chi phí sản xuất tăng lên 2,5 lần. Dù chi phí tại thị trường Việt |


