Khủng hoảng tài chính toàn cầu để lại những hậu quả nghiêm trọng trong dài hạn và đã làm thay đổi sâu sắc những quan niệm phổ biến trước đây của các nhà kinh tế và chính phủ các nước trong việc thiết lập các quy tắc, luật lệ và chính sách trong tương lai. Niềm tin hệ thống, tức là niềm tin vào chính phủ, quốc hội, hệ thống tài chính mà ngân hàng là trung tâm, và phương thức sản xuất, là điều tối quan trọng trong quyết sách của các nước nếu như không muốn lặp lại một cuộc khủng hoảng tương tự trong tương lai. Việt Nam dù không rơi vào tâm bão khủng hoảng kinh tế toàn cầu, song các chính sách, luật lệ cũng cần phải lấy niềm tin hệ thống làm đích đến để hướng đến một nền kinh tế tăng trưởng bền vững và nhân bản hơn.
Dẫn nhập
Trong tác phẩm “Trust and Economic Growth: A Panel Analysis”, Felix Roth (2006) đưa ra định nghĩa tổng quát về niềm tin của Sobel (2002): niềm tin là sự sẵn lòng chấp nhận, cho phép những quyết định của người khác ảnh hưởng đến lợi ích của người đó và mức độ niềm tin nhiều hay ít sẽ xác định mức độ mà một người nào đó sẵn lòng cung cấp tín dụng cho người khác.
Một số nhà khoa học xã hội như Putnam (2000), Levi (1998), Newton (2001) và Luhmann (2000) cho rằng khái niệm niềm tin tồn tại dưới 3 dạng (1) niềm tin gắn kết (2) niềm tin giữa các cá nhân với nhau và (3) niềm tin hệ thống. Niềm tin gắn kết tồn tại chủ yếu trong một cộng đồng hoặc gia đình. Trong khi đó, niềm tin giữa cá nhân với cá nhân là loại niềm tin được hình thành bởi những mối quan hệ trong xã hội hiện đại, những mối quan hệ này dựa trên những giao dịch hằng ngày giữa những người không nhất thiết phải biết rõ nhau. Còn niềm tin hệ thống (Systemic Trust) hàm ý đến niềm tin của công chúng đối với chính phủ, quốc hội, các định chế tài chính và cao hơn nữa là niềm tin vào phương thức sản xuất. Mặc dù khái niệm niềm tin đã được các nhà xã hội học nghiên cứu từ lâu nhưng các nhà kinh tế học như Guiso (2004), Roth (2009), Kartik Anand, Prasanna Gai, Matteo Marsili, (2009) cũng chỉ mới bắt đầu nghiên cứu thời gian gần đây, nhất là kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Bài viết của tôi không đi sâu vào các vấn đề mang tính hàn lâm thuộc lĩnh vực xã hội học của thuật ngữ niềm tin mà chỉ dựa trên một số các nghiên cứu mới đây của các nhà kinh tế về niềm tin hệ thống và khủng hoảng tài chính toàn cầu. Bài viết đưa ra những phác thảo ban đầu về mặt chính sách đặt ra giai đoạn hậu khủng hoảng.
1. Niềm tin và tăng trưởng kinh tế
Nếu hệ thống sản xuất diễm phúc nhận được niềm tin đúng mức, quá trình sản xuất vận hành êm ái nhưng nếu niềm tin giảm sút có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường. Nhiều nhà kinh tế vì vậy kết luận rằng trong nền kinh tế thị trường tự do, niềm tin là một yếu tố đầu vào thiết yếu của quá trình sản xuất. Không có niềm tin đầy đủ, nền kinh tế thị trường tự do không thể hoạt động được, hay ít nhất không hiệu quả. Niềm tin hoạt động như một chất bôi trơn tạo điều kiện cho sản xuất tiến hành dễ dàng và giảm đến mức tối thiểu chi phí giao dịch.
Đây là điều mà Kartik Anand, Prasanna Gai, Matteo Marsili (2009) đề cập đến trong thuật ngữ tính bất định chiến lược (strategic uncertainty) và tính bất định cấu trúc (structural uncertainty). Trong trường hợp tính thanh khoản trên thị trường tín dụng bị tắt nghẽn thì tính bất định chiến lược, nghĩa là tính không chắc chắn trong hành động của các đối tác khác, còn quan trọng hơn cả tính bất định cấu trúc, nghĩa là tình trạng tài chính của các ngân hàng. Lúc bấy giờ, mọi người cùng nhau rút tiền khỏi ngân hàng nếu họ tin rằng những người khác cũng làm như thế. Hành vi này có thể tàn phá cả hệ thống tài chính, cho dù vị thế tài chính của các ngân hàng vẫn còn khá tốt (tính bất định cấu trúc).
Ở Việt
Đứng trên góc độ doanh nghiệp, nếu người chủ có niềm tin đúng mực vào những người làm thuê thì những bản hợp đồng không cần bao gồm tất cả những điều bất ngờ, ngẫu nhiên. Nếu nhà quản lý tin cậy nhân viên, họ có thể dành ít tài nguyên hơn cho việc giám sát hành vi của nhân viên và dành nhiều nguồn lực hơn cho nghiên cứu và phát triển.
Giờ đây nhiều nhà kinh tế đồng ý với nhau rằng khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động quá lớn đến niềm tin hệ thống về lâu dài. Đến mức mà nếu như chính phủ các nước không ưu tiên đề ra những chính sách khôi phục niềm tin hệ thống thì không biết đến bao giờ nền kinh tế mới có thể quay trở lại thời hoàng kim trước đây.
Niềm tin hệ thống rất quan trọng đối với sự ổn định của một chính phủ do dân và vì dân. Levi (1998) cho rằng công chúng ngày càng tuân thủ luật pháp nếu họ nhận biết rằng: (1) chính phủ là đáng tin cậy và (2) những công dân khác cũng hợp tác lẫn nhau. Đến mức mà Scholz (1998) tìm ra bằng chứng cho thấy niềm tin vào thể chế chính trị làm mọi người chấp hành luật thuế tốt hơn.
Tuy có nhiều bằng chứng khác nhau về niềm tin hệ thống tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế nhưng Haepfer (2005) lại tìm thấy mối tương quan dương giữa tăng trưởng kinh tế với chỉ số niềm tin ở các nền kinh tế chuyển đổi Đông Âu. Đối với một nền kinh tế đang chuyển đổi hay đang trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường như Việt Nam, vấn đề niềm tin vì vậy có trọng lượng khó thể phủ nhận.
2. Niềm tin vào phương thức sản xuất
Trong nền kinh tế thị trường, nhiều nghiên cứu về niềm tin hệ thống cho thấy cách thức mà công chúng luôn tìm cách phản ứng để tiến tới một phương thức sản xuất sao cho chính sách phân phối công bằng hơn. Nếu công chúng xét thấy phương thức sản xuất là không công bằng và thiên vị họ sẽ gây áp lực lên chính phủ về các biện pháp trong chính sách phân phối lại và yêu cầu chính phủ can thiệp nhiều hơn, thậm chí chuyển hướng tới phương thức sản xuất.
Những khảo sát gần đây trong khối EU manh nha cho thấy những phản ứng như thế. Hình 1 cho thấy chỉ số niềm tin ở các nền kinh tế thị trường tự do chỉ cao hơn các nền kinh tế đang chuyển đổi chút ít và thấp hơn so với các nước Bắc Âu và các nền kinh tế theo kiểu kết hợp linh hoạt nhiều phương thức sản xuất khác nhau.
Báo chí nước ngoài gần đây bắt đầu đề cập đến cái gọi là “hiệu ứng tầng 1” từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, đặc biệt đối với các nước đang phát triển. So với trước đây, suy thoái kinh tế toàn cầu lần này đã dẫn đến niềm tin ngày càng tăng của công chúng đối với chính phủ ở nhiều nước đang phát triển do người dân ngày càng nhận thấy tầm quan trọng của một chính sách mang lại niềm tin hệ thống lớn hơn thì sẽ ít có đổ vỡ và bền vững hơn.
Hình 1: Mức độ tin cậy theo phương thức sản xuất trong khối EU27

Nguồn: European Social Survey 2002-2006
Ấn Độ, Brazin và
3. Khủng hoảng kinh tế có là sự thất bại của chủ nghĩa tư bản?
Hình 2 cho thấy các kết quả một cuộc thăm dò của Harris (2008) để tìm hiểu thái độ người dân đối với phương thức sản xuất, trong đó người dân đã được hỏi liệu cuộc khủng hoảng tài chính có phải là “sự lạm dụng của chủ nghĩa tư bản” hay nên xem như là một “sự thất bại của chính chủ nghĩa tư bản”.
Trong tháng 10 năm 2008, lúc mà hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính khá nghiêm trọng, 30% tổng số dân Đức đã trả lời rằng cuộc khủng hoảng tài chính là dấu hiệu của một “sự thất bại của chính chủ nghĩa tư bản”.
Tỷ lệ phản ứng này gần gấp đôi ở Pháp, trong khi ở Mỹ, chỉ có 7% người dân tin rằng cuộc khủng hoảng tài chính là một sự thất bại của chủ nghĩa tư bản.
Hình 2: Thất bại của chính chủ nghĩa tư bản

Nguồn: FT-Harris Poll (2008)
Dù vậy kết quả này chưa được nhiều nhà kinh tế xem là bằng chứng đủ thuyết phục chủ nghĩa tư bản đã hết thời. Diễn biến này chỉ mới bước đầu nói lên khuynh hướng chống chủ nghĩa tư bản gia tăng ở Đức và một số khu vực trên thế giới.
4. Niềm tin hệ thống vào hiệu năng của chính phủ và hệ thống ngân hàng
Gần đây nói đến niềm tin hệ thống phần nhiều các nhà kinh tế bàn đến niềm tin vào chính phủ, tập đoàn, và hệ thống tài chính mà ngân hàng là đối tượng trung tâm (ngoài ra các nghiên cứu về niềm tin hệ thống còn đề cập đến vai trò của quốc hội). Phân tích niềm tin hệ thống vào hiệu năng của chính phủ và hệ thống ngân hàng ở một số nước trên thế giới sẽ giúp cho những nhà hoạch định chính sách Việt
4.1 Niềm tin hệ thống và hiệu năng quản lý của chính phủ và các tập đoàn
Hiệu năng quản lý của chính phủ là nội dung khá quan trọng khi nghiên cứu về niềm tin hệ thống. Hình 3 cho thấy biểu đồ phân tán giữa hiệu năng quản lý của chính phủ1 và niềm tin hệ thống các nước EU. Có mối liên hệ trực tiếp và rất mạnh giữa hiệu năng quản lý của chính phủ ở một quốc gia với chỉ số niềm tin.
Hình 3: Hiệu năng quản lý của chính phủ và niềm tin hệ thống

Nguồn: Felix Roth (2009)
Nghiên cứu của Felix Roth (2009) cho thấy chi tiêu của xã hội và chỉ số niềm tin hệ thống có tương quan với nhau rất thấp. Khám phá này ắt hẳn hỗ trợ cho những nhà hoạch định chính sách Việt Nam góc nhìn đa chiều hơn về đánh giá của một số tổ chức nước ngoài về tính lạc quan tiêu dùng của người Việt, chẳng hạn như đánh giá mới đây của hãng Nielsen về “chỉ số niềm tin người tiêu dùng toàn cầu” của Việt Nam đứng hạng 2 thế giới trong quý 2/2010. Điều này có được không hẳn do hiệu năng quản lý cao của chính phủ trong điều hành kinh tế vĩ mô mà có thể do những yếu tố khác, như tâm lý sính hàng ngoại (niềm tin tiêu dùng tăng kèm theo nhập siêu tăng mạnh), thậm chí chính sách tỷ giá mà NHNH đang theo đuổi với việc tỷ giá VND luôn được “định giá thực” cao so với USD trong nhiều năm liền cũng có thể là nguyên nhân trọng yếu làm cho nhập siêu tăng lên, kéo theo tiêu dùng tăng tương ứng. Đây là điều mà dư luận nước ta gọi là kích cầu hàng ngoại.
Nói đến chính phủ là nói đến có hay không sự song hành của chính phủ với những ưu ái đối với các tập đoàn lớn. Nhiều nhà kinh tế giờ đây đã bắt đầu nghiên cứu niềm tin hệ thống vào chính phủ và tập đoàn. Các nhà kinh tế nhập chính phủ và nhóm lợi ích thiểu số vào làm một để nghiên cứu niềm tin hệ thống. Trường hợp một nền kinh tế tự do thuần túy như Mỹ mà vẫn còn duy trì định chế nửa công nửa tư như tập đoàn Fannie Mae & Freddie Mac, định chế tạo ra nhiều rủi ro hệ thống trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, đã làm cho người dân Mỹ mất nhiều niềm tin vào tính liêm chính trong điều hành của chính phủ.
Dù vậy những nghiên cứu gần đây chưa cho thấy rõ mối quan hệ giữa niềm tin với hiệu năng quản lý của chính phủ và các tập đoàn ở các nước phát triển. May thay ý tưởng nghiên cứu này lại là một gợi ý cho các nhà làm chính sách Việt
4.2 Niềm tin hệ thống và NHTW
Khủng hoảng tài chính toàn cầu phần lớn do những thất bại nghiêm trọng trong lĩnh vực ngân hàng. Hình 4 cho thấy niềm tin 12 quốc gia EU trong giai đoạn diễn ra khủng hoảng tài chính vào tháng 1 và 2 năm 2009 đã bị giảm sút nghiêm trọng. Có đến 2/3 dân Pháp hoài nghi NHTW Châu Âu (ECB) vào đầu năm 2009. Tình hình cũng tương tự tại Ý và Đức, có nhiều người nghi ngờ ECB hơn là thực sự tin tưởng vào tổ chức này.
Hình 4: Niềm tin thuần đối ECB trong giai đoạn diễn ra khủng hoảng tài chính

Nguồn: Tính toán của Felix Roth dựa trên Eurobarometer: Special EB71.1
Khảo sát thêm nhiều quốc gia khác xem NHTW các nước đã có những chính sách phù hợp với khủng hoảng hay không, Felix Roth (2009) đã có bảng khảo sát, và phần lớn người dân trả lời “không” (Bảng 1). Niềm tin của người dân đối với các khoản tiền gửi của mình tại các ngân hàng cũng giảm sút đáng kể (Hình 5).
Như vậy ở hầu hết những nền kinh tế phát triển, nơi mà các luật lệ liên quan đến tài chính ngân hàng khá chặt chẽ, người dân cũng đã giảm sút niềm tin rất nhiều vào NHTW và sự ổn định của ngân hàng thương mại.
Bảng 1: Trả lời cho câu hỏi: "Những hành động của NHTW có phù hợp với thách thức của suy thoái kinh tế?"

Nguồn: Tính toán của Felix Roth dựa trên FT-Harris Poll (2009d)
Hình 5: An toàn tài khoản ngân hàng và các khoản thế chấp

Nguồn: Tính toán của Felix Roth dựa trên FT-Harris Poll (2008)
Điều này phần nào gợi lên cho những nhà hoạch định chính sách Việt
5. Những chính sách hướng đến niềm tin hậu khủng hoảng kinh tế
Để ngăn ngừa tái phát một cuộc khủng hoảng trong tương lai và hướng đến một sự phát triển cân bằng hơn, một số phản ứng chính sách hướng đến xây dựng niềm tin ở các nước sẽ là bài học quý giá cho Việt
5.1 Giám sát thị trường tài chính và minh bạch là ưu tiên hàng đầu
Trong 14 thành viên EU, khi đặt câu hỏi cho người dân liệu những biện pháp nào cần phải được ưu tiên khi cải cách hệ thống tài chính trong EU (những người được hỏi chỉ được phép có một câu trả lời), đa phần đều đặt ưu tiên cho việc thiết lập hệ thống giám sát tài chính.
Hình 6: Ưu tiên đối với cải cách hệ thống tài chính EU

Nguồn: EB72 được thu thập từ cuộc khảo sát ở EU vào mùa thu năm 2009
Đề xuất này phổ biến nhất ở
5.2 Qui định chặt chẽ hơn đối với các hoạt động kinh doanh và ngân hàng
Trước đây khi nói đến quản lý chặt chẽ hơn của chính phủ luôn đồng nghĩa với gây ra nhiều tổn thất cho xã hội. Nhưng sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, suy nghĩ của mọi người giờ đây đã thay đổi theo hướng những can thiệp nên được thực thi sao cho không còn diễn ra những bất ổn và thậm chí là một cuộc khủng hoảng tương tự. Phần lớn người dân ở 5 quốc gia phát triển nhất ở Châu Âu và Mỹ đồng ý ủng hộ quản lý chặt chẽ hơn nữa của chính phủ đối với các hoạt động kinh tế (Bảng 2).
Bảng 2: Sự tăng lên trong nhu cầu của người dân đối với qui định chặt chẽ hơn các hoạt động kinh doanh

Nguồn: Harris Poll (2009)
Khi khủng hoảng kinh tế vẫn đang diễn ra, có ít nhất 2/3 công dân ở Mỹ và 5 quốc gia phát triển nhất Châu Âu (66%-79%) ủng hộ cho sự quản lý chặt chẽ hơn đối với các hoạt động kinh tế của nước họ để ngăn ngừa khủng hoảng thị trường tài chính toàn cầu trong tương lai. Ở Anh, Pháp,Tây Ban Nha, Đức và Mỹ sự ủng hộ cho sự quản lý chặt chẽ hơn đã tăng lên từ tháng 10/2009 trong khi ở Ý vẫn giữ ở tỷ lệ không đổi.
Đối với hoạt động ngân hàng thì tuyệt đại người dân (trên 2/3) ở các nước Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, và Mỹ nhất trí cao các biện pháp can thiệp mạnh hơn nữa của chính phủ đối với các ngân hàng thương mại (Bảng 3).
Bảng 3: Sự tăng lên trong nhu cầu của người dân trong việc qui định chặt chẽ hơn đối với các các ngân hàng thương mại

Nguồn: Harris Poll (2009)
5.3 Toàn cầu hóa hay chủ nghĩa bảo hộ lên ngôi?
Ghi nhận từ những cuộc thăm dò ý kiến của công ty GlobeScan về thái độ của người dân đối với toàn cầu hóa và những biện pháp bảo hộ được thực hiện vào 14/11/2009, tính trên quy mô toàn cầu sự ủng hộ đối với những biện pháp bảo hộ vẫn còn rất mạnh mẽ. Dù vậy cũng không ít trường hợp những quốc gia thường rao giảng chống chủ nghĩa bảo hộ nhưng lại tiến hành những chính bảo hộ trên thực tế.
Đại đa số người dân ở 23 quốc gia trong mẫu khảo sát thể hiện sự đồng thuận của họ về những biện pháp bảo hộ việc làm và nền công nghiệp quốc gia (chiếm 72%), 63% lấy lí do là hạn chế những công ty quốc gia bị sở hữu bởi công ty nước ngoài. Dựa theo bảng thăm dò của GlobeScan, thái độ mạnh nhất đối với xu hướng bảo hộ mậu dịch thuộc về các nền kinh tế mới nổi như
Hình 7: Bảo hộ có thể góp phần kết thúc suy thoái kinh tế?

Nguồn: Tính toán của Felix Roth dựa trên FT-Harris Poll (2009c)
Theo một công bố mới của GlobeScan (2008), lần đầu tiên trong 7 năm nghiên cứu trên toàn thế giới, không còn đa số người cảm nhận toàn cầu hóa kinh tế giống như là quyền lợi thiết thân như trước.
Mặc dù vậy có một điều thú vị là phần đông người dân 5 nước Anh, Ý, Tây Ban Nha, Pháp và Đức bỏ phiếu chống lại những phương pháp mang tính chất bảo hộ. Ngược lại, vẫn có phần đông người dân Mỹ tin rằng bảo hộ có thể góp phần giúp đất nước vượt qua khủng hoảng (Hình 7).
5.4 Sụt giảm niềm tin dẫn tới người dân yêu câu chính phủ can thiệp nhiều hơn?
Câu hỏi đặt ra là có phải ở những nơi nào mà niềm tin sụt giảm thì chính phủ nên can thiệp nhiều hơn? Ít nhất điều này cũng đúng trong trường hợp của Đức, một quốc gia theo chủ nghĩa kinh tế thị trường xã hội. Mối liên hệ giữa sự sụt giảm trong niềm tin và nhu cầu can thiệp mạnh hơn của chính phủ gần như là điều tất yếu (đây nên là tình huống nghiên cứu cho các nhà hoạch định chính sách Việt
Hình 8: Sự ủng hộ đối với can thiệp hơn nữa của chính phủ

Nguồn: Tính toán của Felix Roth dựa trên FT-Harris Poll (2009a)
Hình 8 cho thấy nhu cầu mạnh mẽ của người dân Châu Âu về chính sách can thiệp của chính phủ. Câu hỏi đặt ra cho người dân là: “Bạn hỗ trợ hay chống lại (với mức độ nào) về những chính sách can thiệp ngày càng tăng của chính phủ vào trong hoạt động kinh doanh để ngăn chặn khủng hoảng trong tương lai?” Hãy trả lời theo mức khả năng: Hoàn toàn ủng hộ, ủng hộ một phần, phản đối một phần, hoàn toàn phản đối.
Có thể thấy trong bảng số liệu này, hầu hết người dân hỗ trợ mạnh mẽ đối với sự tăng lên trong qui định của chính phủ. Ý là quốc gia dẫn đầu, theo sau là Pháp và Đức. Cuối bảng là Mỹ, một xã hội thị trường tự do truyền thống.
6. Một vài hàm ý chính sách cho Việt
6.1. Chính sách và những chuẩn mực hướng đến niềm tin
Những kết quả nghiên cứu về niềm tin hệ thống khá phức tạp, có thể đúng ở nước này song không đúng ở nước khác, có thể đúng ở thời điểm khủng hoảng song lại không đúng sau đó. Song điểm nổi bật toát lên trong các nghiên cứu về niềm tin là chính sách và chuẩn mực ở các nước thời hậu suy thoái kinh tế nên là những quyết sách trực tiếp hướng đến thúc đẩy niềm tin. Luận điểm này rất quan trọng đối với chính phủ các nước và chúng sẽ làm thay đổi hẳn hoặc phần lớn linh hồn của các chính sách.
Một số ý tưởng chính của luận điểm này, theo tôi, nên được hiểu ở Việt
- Chủ trương hình thành một định chế hoặc một tập đoàn “quá lớn để không thể sụp đổ” giờ đã không còn đứng vững. Phải chăng một số tập đoàn kinh tế nhà nước và SCIC (Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước) đang rơi vào tình trạng này?
- Chính sách, chủ trương có thể đúng về kinh điển song cần phải đặt lên bàn cân hậu quả của niềm tin sụt giảm.
Lấy ví dụ, lúc nền kinh tế đang suy thoái mà cứ nhất quyết cho rằng chính sách lãi suất phải đảm bảo thực dương là quá máy móc. Hay việc tính toán tăng tỷ giá 2% vào tháng 8/2010 vừa rồi được một số hoạch định chính sách tài chính tiền tệ cho là có cơ sở vững chắc do đã dựa vào mô hình kinh tế lượng cũng là một trường hợp máy móc khác. Mô hình là cần thiết song nó dựa vào quá nhiều giả thuyết. Nhưng quan trọng nhất là không có mô hình kinh tế lượng nào lường hết được yếu tố tâm lý, tức niềm tin.
Đó là chưa kể tính không nhất quán trong phương thức điều hành. Lúc thì nói chính sách phải linh hoạt, phải riêng có của Việt
Hậu quả của các chính sách này là gì? Một số quyết định chính sách ở nước ta thường để lại dấu ấn rất rõ về niềm tin bị hao hụt ít nhiều. Chẳng hạn hiệu ứng “lạm phát do tâm lý” do tăng tỷ giá, lãi suất, giá xăng dầu, điện nước…là một ví dụ. Dường như những vấn đề liên quan đến niềm tin hệ thống đã không được những nhà làm chính sách chú ý đúng mức.
6.2. Một số gợi ý chính sách
Trong phạm vi những gì đã phân tích, tôi có một vài gợi ý và đề xuất chính sách như sau:
- Một NHTW độc lập và tính an toàn của cả hệ thống ngân hàng phải là trọng tâm trong các chính sách hướng đến niềm tin.
- Giám sát và minh bạch là điều tối quan trọng chẳng những riêng cho cho các định chế tài chính ngân hàng mà còn đối với cả khu vực sản xuất kinh doanh.
- Những sản phẩm tài chính cấu trúc phức hợp có tác động lan tỏa rất lớn đến toàn thị trường và làm hủy hoại niềm tin của nhà đầu tư như các CDO, CDS đã được chính phủ các nước hạn chế và tăng cường giám sát. Đối với Việt
- Mối quan hệ giữa niềm tin hệ thống với “hiệu năng quản lý của chính phủ và các tập đoàn kinh tế” cần phải được cải thiện nhiều hơn nữa để tạo sự đồng thuận của người dân trong các chiến lược tăng trưởng sắp đến. Tái cấu trúc kinh tế cũng cần phải tái cấu trúc mối quan hệ này.
- Một số quan điểm cho rằng khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng đồng nghĩa với chủ nghĩa tư bản đã hết thời và do đó chính phủ cần can thiệp mạnh hơn nữa vào nền kinh tế. Kết luận này e rằng có quá sớm. Các nghiên cứu cho thấy chỉ khi nào hoặc khu vực nào mà niềm tin hệ thống bị xói mòn thì chính phủ mới nên tăng cường can thiệp.
- Cho dù gần đây không ít nền kinh tế có xu hướng bảo hộ mậu dịch nhưng nhìn chung xu thế toàn cầu là ủng hộ tự do mậu dịch. Một nền kinh tế nhỏ và mới hội nhập như Việt
Muốn có một chính sách hướng đến niềm tin thì không chỉ bằng lời nói, hoặc hô hào, hoặc chỉ bàn thảo trong phạm vi hẹp. Để nhận được sự đồng thuận của công chúng, cần phải có không gian để niềm tin hệ thống bộ lộ đối với những chủ trương và quyết sách lớn./.
Tài liệu tham khảo
- Felix Roth, “Who can be trusted after the financial crisis?”, Centre for European Policy Studies (CEPS Working Document 11/2009).
http://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=1513251
- Felix Roth, “The Effects of the Financial Crisis on Systemic Trust”, Centre for European Policy Studies (CEPS Working Document 7/2009).
http://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=1438510
- Harris Poll (2009a), “Large Majorities in Five Largest European Countries and the U.S. Support Increased Government Regulation of Business Activities and of Commercial Banks”, Financial Times/February http://www.harrisinteractive.com/news/ftharrispoll/hi_financialtimes_harrispoll_february_2009_25.pdf
- Harris Poll (2009c), “In the United States and Largest European Economies Public Opinion is split on issues Economic Nationalism, Protectionism and Internationalism”, Financial Times/March
http://www.harrisinteractive.com/news/FTHarrisPoll/HI_FinancialTimes_HarrisPoll_March_2009_19.pdf
- Kartik Anand, Prasanna Gai, Matteo Marsili, “Financial Crises and Evaporation Trust”, Working Paper 1/2009”.


