14:33:54 Thứ sáu, 23/07/2010
Linh hoạt trong điều hành tài chính hậu khủng hoảng
Hàn Tín
(baodautu.vn) Hiện là thời điểm Việt Nam cần đưa ra chính sách tài chính để giải quyết những vấn đề do khủng hoảng để lại và tạo tiền đề cho nền kinh tế bước sang giai đoạn mới.
“Những số liệu về kinh tế vĩ mô 6 tháng qua đã chứng minh rằng, nền kinh tế Việt Nam không chỉ ra khỏi suy thoái, mà đã lấy được đà tăng trưởng như giai đoạn trước khi khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra. đặc biệt là, hoạt động xuất khẩu (chiếm 80% GDP) thay vì giảm 9,41% của năm 2009, trong 6 tháng đầu năm nay đã đạt mức tăng trưởng ngoài dự báo, với mức tăng 24,46%”, ông Vũ Như Thăng, Viện trưởng Viện chiến lược và chính sách tài chính (Bộ Tài chính) bình luận.

Với những diễn biến tích cực của nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo, năm 2010, tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 6%, nhưng lạm phát sẽ dao động quanh ngưỡng 12%. Trong khi đó, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) lại dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm nay là 6,5%, còn lạm phát ở mức tối đa 10%. So với 2 tổ chức tài chính quốc tế này, Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra bức tranh lạc quan hơn (GDP tăng 6,5%, lạm phát tối đa 9%).

“Kinh tế Việt Nam đã ra khỏi suy thoái, song đang phải đối mặt với nhiều khó khăn như tốc độ tăng trưởng GDP chậm hơn so với quý IV/2009 (6,16% so với 7,68%); lạm phát có nguy cơ tăng trở lại; thâm hụt thương mại tiếp tục ở ngưỡng cao; tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 10,52% thay vì 37,73% của năm 2009…, nên các tổ chức tài chính đưa ra dự báo có sự sai số cũng là điều dễ hiểu”, ông Thăng phân tích và cho biết, căn cứ vào tình hình thực tế, cũng như diễn biến thời gian tới, Bộ Tài chính đưa ra dự báo, trong quý III/2010, GDP sẽ tăng trưởng 6,78% và tiếp tục đà tăng trưởng lên 7,21% trong quý IV, nên cả năm sẽ đạt 6,31%. Chỉ số lạm phát cuối quý III sẽ dừng ở con số 5,79% (chỉ số này trong 6 tháng đầu năm đã lên đến 4,78%) và tăng lên mức 7,4% vào cuối năm nay. Như vậy, so với mục tiêu mà Chính phủ đặt ra (tốc độ tăng trưởng GDP ở mức 6,5% và lạm phát dưới 8%), sai số của Bộ Tài chính đưa ra có độ chênh lệch không lớn.

“Kinh tế thế giới vừa ra khỏi khủng hoảng đã phải đối mặt với khủng hoảng nợ công. Cuộc khủng hoảng nợ công cũng nguy hiểm không kém khủng hoảng tài chính - tiền tệ. Với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, khủng hoảng nợ công của thế giới cũng có tác động không nhỏ. Vì vậy, Bộ Tài chính nên tính toán lại dự báo để đưa ra các chính sách tài chính thời hậu khủng hoảng sát thực tế hơn, đặc biệt là tính đến lĩnh vực xuất khẩu - lĩnh vực đóng góp vai trò vô cùng quan trọng trong tăng trưởng GDP”, ông Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nhận định và cho rằng, việc Trung Quốc nâng giá đồng NDT theo yêu cầu của Mỹ, EU và các nền kinh tế lớn khác sẽ khiến hàng hoá xuất khẩu của Trung Quốc trở nên đắt hơn. Đây chính là cơ hội để Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu, song chính sách bình ổn tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước dường như chưa tận dụng cơ hội này. Ngoài ra, khi suy thoái kinh tế qua đi, các cơ quan quản lý nhà nước cần có đánh giá thật khoa học gói kích cầu đã sử dụng để có cái nhìn tổng quát về hiệu quả mà gói kích cầu đem lại. Như vậy, mới có thể đưa ra các giải pháp mới hiệu quả hơn trong giai đoạn hậu khủng hoảng.

“Gói kích cầu mà Chính phủ đã sử dụng trị giá 7 tỷ USD (giảm 1 tỷ USD so với dự kiến ban đầu) góp phần tăng GDP năm 2009 thêm 1,3-1,4%. Có thể nói, hiệu quả xã hội của gói kích cầu là rất lớn. Vấn đề đặt ra là, phải tính toán xem thời gian tới, gói kích cầu này tiếp tục mang lại những hiệu quả gì”, ông Thành đề xuất.

Tại Hội thảo Chính sách tài chính hậu khủng hoảng vừa được Bộ Tài chính tổ chức, sau khi chỉ ra hàng loạt thách thức mà nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt thời hậu khủng hoảng (nhập siêu tăng mạnh, thị trường chứng khoán diễn biến phức tạp, thâm hụt tài khoản vãng lai lớn, dự trữ ngoại hối thấp…), ông Phạm Văn Hà (Nhóm tư vấn chính sách của Bộ Tài chính) cho rằng, trong những tháng còn lại của năm 2010, ngành tài chính phải phấn đấu hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu và tiết kiệm chi để hạn chế thâm hụt ngân sách; tạm thời chưa tăng giá những mặt hàng chiến lược nhằm ổn định mặt bằng giá; cần có những chính sách linh hoạt nhằm hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập siêu...

Trong giai đoạn suy thoái kinh tế, doanh nghiệp đã phải chứng kiến (và cả trả giá) không ít chính sách điều hành “giật cục”. Vì vậy, theo ông Võ Trí Thành, trong giai đoạn hậu khủng hoảng, Việt Nam tiếp tục điều hành linh hoạt, đặc biệt là chính sách điều hành tỷ giá, mà nên để thị trường tự điều chỉnh.