Luật SBV năm 2010 đã cụ thể hoá được vai trò, vị trí của các cơ quan nhà nước trong việc quyết định và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, trong đó thẩm quyền và tính tự chủ của SBV trong việc chủ động, linh hoạt sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ đã được xác định rõ ràng.
Theo ông Giàu, quy định này không chỉ tạo điều kiện cho SBV thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình mà còn phù hợp với một mô hình Ngân hàng Trung ương của các nước trên thế giới mà Việt Nam đang hướng đến.
Một điểm mới nữa của Luật SBV năm 2010 là việc cho phép SBV quyết định áp dụng một số biện pháp đặc biệt để xử lý TCTD vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; TCTD gặp khó khăn về tài chính, có nguy cơ mất khả năng thanh toán cho hệ thống ngân hàng.
Cụ thể, ngoài việc SBV có quyền đình chỉ có thời hạn, miễn nhiệm chức vụ người quản lý, người điều hành của TCTD; quyết định sáp nhập, hợp nhất, giải thể TCTD hoặc đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt còn có quyền mua cổ phần của TCTD.
“Đây là những nội dung rất mới và khá mạnh tay so với cơ chế cho vay đặc biệt hiện nay nhằm cứu vãn những TCTD “gặp sự cố”. Tuy nhiên, cũng như việc SBV sử dụng vốn pháp định để góp vốn thành lập doanh nghiệp đặc thù (như thành lập Công ty Chuyển mạch hay In tiền quốc gia…), SBV mua cổ phần của TCTD nào đó chỉ nhằm mục đích để xử lý về tài chính, bảo đảm sự an toàn cho hệ thống ngân hàng và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình chứ không phải mua cổ phần nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận”, ông Giải thích.
Một vấn đề gây nhiều tranh luận nhất trong quá trình xây dựng Luật SBV là việc có nên quy định lãi suất cơ bản hay không. Cuối cùng thì lãi suất cơ bản vẫn được quy định cụ thể trong Luật SBV, tuy nhiên theo ông Giàu, lãi suất cơ bản theo Luật SBV năm 2010 khác cơ bản so với lãi suất cơ bản quy định trong Luật SBV năm 1997. Và đây là điểm mới được doanh nghiệp, TCTD đánh giá rất cao.
Theo quy định của Luật SBV hiện hành thì SBV công bố lãi suất cơ bản làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh. Còn theo Luật SBV mới thì SBV công bố lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ và chống cho vay nặng lãi.
Quy định này theo ông Giàu vừa bảo đảm để SBV điều hành, thực thi chính sách tiền tệ, vừa có sở sở để áp dụng quy định của các luậât liên quan như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ Luật lao động… mà không cần phải sửa đổi các luật này. Đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để SBV thay đổi nội hàm lãi suất cơ bản theo hướng lãi suất cơ bản không phải là cơ sở để các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh mà làm cơ sở cho việc phòng chống cho vay nặng lãi trong xã hội. Tuy nhiên, trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường như đã từng diễn ra năm 2008, SBV quy định cơ chế điều hành lãi suất để áp dụng trong quan hệ giữa các TCTD với nhau và với khách hàng.
“Trước những diễn biến bất thường của thị trường tiền tệ (lãi suất huy động và cho vay tăng quá mạnh trong thời gian ngắn), năm 2008, tôi đã phải ký Chỉ thị 02/2008/CT-NHNN nhằm mục đích bình ổn thị trường và kết quả là sau một thời gian thị trường tiền tệ đã ổn định trở lại. Tuy nhiên, có không ít người cho rằng, Thống đốc SBV vi phạm pháp luật khi can thiệp hành chính quá sâu vào hoạt động kinh doanh của NHTM. Đúng là Luật SBV hiện hành không cho phép cơ quan quản lý nhà nước được can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của TCTD, nhưng tôi không hiểu nếu không kịp thời ban hành Chỉ thị 02 thì thị trường tiền tệ sẽ diễn biến xấu đến mức nào, nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng ra sao”, ông Giàu nhớ lại.
Việc cho phép SBV được quyền can thiệp vào lãi suất của các TCTD khi thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường theo người đứng đầu ngành ngân hàng sẽ tạo điều kiện cho cơ quan quản lý các TCTD có cơ sở pháp lý để can thiệp vào thị trường trước khi thị trường tiền tệ có diễn biến quá xấu, tránh trường hợp “vi phạm pháp luật” như đã từng xảy ra trong năm 2008 với Chỉ thị 02/2008.
Một điểm mới nữa của Luật SBV năm 2010 là việc mở rộng hoạt động cho vay của SBV. Cụ thể, SBV được cho vay không những đối với TCTD đã “lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả” mà còn được phép cho vay đối với cả TCTD hoạt động bình thường nhưng “có nguy cơ mất khả năng chi trả do các sự cố nghiêm trọng khác” để bảo đảm có thể can thiệp sớm hơn, hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng.
“Thị trường tiền tệ đã chứng kiến có không ít ngân hàng đang hoạt động bình thường, mọi chỉ tiêu đạt được có thể nói là rất tốt, nhưng tự nhiên có tin đồn thất thiệt (như tổng giám đốc bỏ trốn hoặc cho vay một khoản khổng lồ đối với doanh nghiệp nào đó sắp phá sản…) đã gây ra biến động bất thường và SBV buộc phải can thiệp bằng nhiều biện pháp khác nhau. Vì vậy, việc mở rộng hoạt động cho vay của SBV đối với TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả với bất cứ lý do gì sẽ tạo điều kiện cho các TCTD yên tâm trong hoạt động kinh doanh”, Phó thống đốc SBV, ông Đặng Thanh Bình cho nhận định.


