Bên cạnh đó, do từng ngành chưa có kế hoạch thâm nhập thị trường dài hơi, để từ đó xây dựng kế hoạch phát triển những nhóm hàng trọng điểm, nên việc thực hiện kế hoạch xuất khẩu của năm nay sẽ gặp nhiều khó khăn. Ví dụ, với nhóm nông, lâm, thuỷ sản, Bộ Công thương đặt mục tiêu xuất khẩu 12,98 tỷ USD, nhưng cũng thừa nhận, khả năng tăng số lượng xuất khẩu là thấp, bởi nhiều ngành hàng đã “đến ngưỡng” sản lượng.
Hay như nhóm khoáng sản, nhiên liệu sẽ bị sụt giảm kim ngạch xuất khẩu do một lượng lớn dầu thô được để lại phục vụ sản xuất trong nước (dự kiến xuất khẩu sản phẩm dầu thô sẽ giảm 4,4 triệu tấn).
Trong bối cảnh đó, “gánh nặng” chỉ tiêu được dồn cho nhóm công nghiệp chế biến khi chiếm tỷ trọng 53,5% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó vẫn trông chờ chủ yếu vào dệt may, giày dép, đồ gỗ, sản phẩm chất dẻo, máy tính, linh kiện điện tử...
Trong khi định hướng phát triển kinh tế dựa vào tăng trưởng xuất khẩu vẫn tiếp tục được duy trì trong giai đoạn tới, thì rõ ràng nhiệm vụ ngày càng đè nặng lên các cơ quan quản lý và doanh nghiệp xuất khẩu, từ đó đòi hỏi phải có những giải pháp rất cơ bản.
Tại Hội nghị Triển khai công tác ngành Công thương năm 2010, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải cũng cho rằng, xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua dù đạt được những thành tích tốt, nhưng vẫn còn “tự phát” và nếu tình trạng này không được cải thiện, thì việc tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao trong những năm tới sẽ gặp khó khăn.
Để thúc đẩy xuất khẩu, đã có nhiều ý kiến khẳng định, công tác xúc tiến thương mại cần phải tiếp tục được đẩy mạnh hơn nữa. Như câu chuyện xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc nói trên, nếu không xây dựng được kế hoạch xúc tiến thương mại bám theo mục tiêu của từng ngành tham gia thị trường, sẽ khó có thể đưa mạnh hàng hoá vào thị trường này. Mở rộng ra với các thị trường khác, cơ quan quản lý cần phải tiếp tục bám sát hoạt động của DN, để kịp thời tháo gỡ khó khăn, động viên cộng đồng doanh nghiệp xây dựng kế hoạch cụ thể.
Ngoài ra, một trong các giải pháp để mở rộng thị trường xuất khẩu trong thời gian tới là tích cực đàm phán ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA). Đây là định hướng đúng đắn và được cộng đồng doanh nghiệp hoan nghênh. Song vấn đề đặt ra với các doanh nghiệp, mà gián tiếp có sự tác động từ chính sách cụ thể của cơ quan quản lý, là làm sao có được các sản phẩm chiến lược cho từng thị trường. Nếu không làm được điều này, tác động ngược từ các FTA sẽ khiến doanh nghiệp bối rối, bởi các thị trường mà nước ta mong muốn thiết lập FTA trong giai đoạn tới đều được đánh giá là nơi có sức cạnh tranh khá mạnh.
Biện pháp được cho là nguồn gốc giải quyết các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu chính là việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính. Khi các thủ tục đăng ký qua mạng Internet chưa phổ dụng, thì việc cải cách thủ tục hành chính tại các bộ, ngành cần phải tiến hành quyết liệt hơn nữa. Nếu không, doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận thị trường, bởi đã vướng ngay từ cơ chế chính sách tạo điều kiện thông thoáng cho “gốc” sản xuất.


