Năm 2009, xuất khẩu cao su thiên nhiên của Việt Nam đạt 726.000 tấn, trị giá 1,199 tỷ USD, với đơn giá bình quân đạt 1.652 USD/tấn, tăng 10,3% về lượng so với năm 2008.
Kết quả này đã đưa Việt Nam trở thành quốc gia đứng thứ 5 thế giới về sản lượng (khoảng 7,7% tổng sản lượng cao su thế giới) và xuất khẩu xếp thứ 4, chiếm khoảng 9% tổng sản lượng cao su thế giới (đánh giá của Tổ chức nghiên cứu cao su quốc tế -IRSG).
Trong bối cảnh khó khăn chung, nhiều ngành công nghiệp đình trệ, thị trường tiêu thụ ô tô thu hẹp kéo theo nhu cầu săm lốp và cao su nguyên liệu sụt giảm rất nhanh, giá xuống thấp các doanh nghiệp xuất khẩu cao su Việt
Có thể nói đây là nỗ lực rất đáng ghi nhận trong bối cảnh xuất khẩu gặp nhiều khó khăn trong năm 2009, đây là cơ sở quan trọng để tạo bước đột phá trong năm 2010 cũng như những năm tiếp theo.
Theo nhận định của bà Trần Thúy Hoa, Tổng thư ký Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA), cơ hội đối với cao su là rất lớn, do nền kinh tế thế giới đã dần hồi phục. Một tài liệu của IRSG được bà Hoa dẫn chứng cho thấy, từ 2010 nhu cầu cao su thiên nhiên sẽ tăng trưởng liên tục đến 2019, riêng trong năm 2010, mức tiêu thụ cao su thiên nhiên khoảng 10,43 triệu tấn, tăng 8% so năm 2009 và các năm sau đó tăng khoảng 3,5 % hàng năm. Giá cả cũng sẽ được cải thiện theo đà phục hồi của giá dầu thô và cao su tổng hợp, đem lại lợi nhuận tốt cho người sản xuất.
Bên cạnh đó, mức tiêu thụ nội địa có xu hướng tăng dần ( năm 2009 tiêu thụ nội địa đạt khoảng 120.000, chiếm khoảng 16,6 % tổng sản lượng cao su thiên nhiên của cả nước, tăng hơn năm trước 20.000 tấn (20%).
Năm 2010, tiêu thụ nội địa còn được khích lệ bởi trong lĩnh vực chế biến sản phẩm cao su có sự xuất hiện của nhà máy sản xuất lốp xe của Kumho (Hàn Quốc) tại tỉnh Bình Dương với công suất 3 triệu lốp xe tải hạng nhẹ.
Các nhà máy chế biến khác sử dụng khoảng 80.000 tấn cao su thiên nhiên với sản lượng ước đạt 4,45 triệu lốp xe ô-tô và xe tải.
Đón đầu nhu cầu này, Việt
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ năm 2005, Việt
Thách thức không ít...
Vấn đề đặt ra hiện nay đối với ngành cao su là cần sự phát triển bền vững để có thể chủ động trước sự biến động về giá cũng như thị trường xuất khẩu.
Cũng như nhiều mặt hàng nông sản khác, giá cao su xuất khẩu của Việt
Bà Hoa thừa nhận, hiện nay, việc đảm bảo chất lượng cao su thiên nhiên Việt Nam chỉ mới được chú trọng tại các DN quốc doanh và DN lớn, chưa được quan tâm trong các DN nhỏ và vừa, do đó làm ảnh hưởng đến uy tín chung của ngành cao su Việt Nam. Đây là nguyên cớ khiến người mua ép giá.
Cũng vì lý do này, ngoài sự tác động của suy thoái kinh tế, năm 2009 lượng cao su xuất khẩu bị sụt giảm ở nhiều thị trường quan trọng, như Đức (-4,7 %), Hoa Kỳ (-12,5%), Nga (-4,9%), Nhật (- 19,1%), Thổ Nhĩ Kỳ (-2,2%), Ý (-12.9%).
Giá cao su thường xuyên biến động đã gây khó khăn lớn cho doanh nghiệp chế biến sản phẩm cao su cũng nhà kinh doanh xuất nhập khẩu. Trong khi đó, vấn đề quan trọng nhất là chất lượng để giữ giá xuất khẩu lại chưa được quan tâm đúng mức.
Theo bà Hoa, sự hợp tác chặt chẽ giữa VRA với các tổ chức cao su quốc tế đã giúp các doanh nghiệp và nhà quản lý nắm bắt thông tin thị trường, trên cơ sở đó ngành cao su đã có các quyết định trong việc đầu tư mở rộng diện tích, gia tăng sản lượng và sản phẩm chế biến. Tuy nhiên, để có những bước phát triển bền vững nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu xuất khẩu của ngành cao su năm 2010 và tiến đến gia tăng giá trị xuất khẩu bền vững trong tương lai, cần có những giải pháp để đảm bảo chất lượng cao su nguyên liệu của Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.
“Cần có cơ chế yêu cầu giấy chứng nhận về chất lượng cao su cho các lô hàng xuất khẩu và tiêu thụ trong nước. Để tình trạng mạnh ai nấy làm như hiện nay là bất ổn”, bà Hoa nói và cho biết, cả nước có trên 500 DN xuất khẩu, tăng gấp đôi so với 2008, nhưng số DN có quy mô lớn rất ít. Chỉ với khoảng 100 DN đã chiếm trên 70% tổng lượng cao su xuất khẩu cả nước.
“Ngoài hoạt động của VRA, các ngành chức năng cũng cần hỗ trợ thêm việc thu thập và cung cấp thông tin thị trường, giá cả cho DN để sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả”, bà Hoa kiến nghị.
Dự kiến, năm 2010, ngành sẽ phát triển thêm 40.000 ha, đưa diện tích cao su cả nước lên 715.000 ha, tăng sản lượng đạt khoảng 770.000 tấn, xuất khẩu 750.000 tấn với kim ngạch đạt 1,5 tỷ USD.


